Trang

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Giai thoại về người tạo ra giống lúa Thần Nông IR 50404.



Giai thoại về người lai tạo cây lúa IR 50404.
Giống lúa năng suất cao IR 50404 được du nhập vào Việt Nam trong thập niên 80 của thế kỷ 20 đã giúp cho Việt Nam vượt lên đứng vào vị trí thứ 2 trong các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đây là cây lúa của người nghèo bởi vì mặc dầu có tỉ lệ tấm cao ( khoảng 25%) nhưng đây là loại lúa ngắn ngày( từ 95-100 ngày), kháng rầy nâu cao phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. Ngoài ra nó còn có ưu thế là năng suất cao (6,0-7,0 tấn/hécta, nhiều nơi có thể lên đến 9 tấn/hécta) và chi phí sản xuất thấp so với các loại giống khác. Nhưng người nông dân trồng loại lúa này lại biết được rất ít thông tin về người đã lai tạo giống lúa này và người đã đưa giống lúa này trồng thử nghiệm và sau đó là đại trà ở Việt Nam.

 

Hình 1 : Giống lúa Thần Nông IR50404 tại phòng thí nghiệm ( ảnh tư liệu).
Giai thoại về việc du nhập giống lúa IR 50404 này vào Việt Nam và phổ biến cho nông dân liên quan đến 2 người : một người Mỹ  là Thomas Hargrove còn người Việt Nam là GSTS Võ Tòng Xuân. Cả hai cùng là chuyên gia về nông nghiệp chuyên lai tạo và phổ biến các loại giống lúa mới cho nông dân tại Đông Nam Á.
GSTS Võ Tòng Xuân được nhiều nông dân biết đến vào những ngày đầu miền Nam vừa giải phóng khi ông huy động sinh viên trường Đại Học Cần Thơ tham gia kế hoạch diệt rầy nâu cứu lúa trên đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó ông trở thành Hiệu trưởng của trường Đại Học An Giang và giờ đây là Quyền Hiệu trưởng trường Đại Học Nam Cần Thơ .Các học trò của ông hiện nay là những chuyên gia về nông nghiệp tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Riêng về Thomas Hargrove     ( 1944-2011) thì ít được biết đến mặc dầu ông chính là người lai tạo giống lúa IR 50404 này.


Hình 2 : Thomas Hargrove ( ảnh tư liệu ).
 
Sau khi tốt nghiệp Đại học Texas A&M với hai văn bằng về Kỹ thuật nông nghiệp và báo chí, Thomas Hargrove nhập ngũ và được đưa sang Việt Nam làm việc với tư cách là cố vấn cho chương trình bình định của VNCH với quân hàm là Trung úy. Trong khoảng thời gian từ năm 1969-1970 ông phục vụ tại Chương Thiện ( nay là Long Mỹ thuộc tỉnh Hậu Giang) vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trung úy Tom đã đưa các giống lúa Thần nông như IR5, IR8... của Viện Lúa quốc tế IRRI Philippines đến các nông dân ở miền Tây, giúp người nông dân tăng sản lượng gấp 3 lần so với giống lúa mùa địa phương.
Sau khi hết thời gian phục vụ trong quân đội Mỹ, Thomas Hargrove quay trở về trường Đại học lấy bằng tiến sĩ về nông nghiệp và làm việc tại Viện lúa Quốc tế IRRI Philippines từ 1973-1991. Giống như phần đông các cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến tại Việt Nam mắc phải loại bệnh gọi là “ Hội chứng Việt Nam”, ông luôn bị ám ảnh về thời gian phục vụ tại đây : những lần gọi máy bay đến oanh kích vùng tình nghi có Việt cộng nhưng phần đông những người dân vô tội bị vạ lây về những cuộc oanh kích này. Ông cảm thấy mình có lỗi và muốn tìm cơ hội để giúp ích cho người dân Việt Nam, những người đã từng trãi qua những mất mát, đau thương vì chiến tranh. GSTS Võ Tòng Xuân kể lại :
“ Khi tôi còn làm việc tại Khoa Nông nghiệp của trường Đại học Cần Thơ, hàng năm nhà trường có nhập các loại giống lúa mới từ Viện Lúa quốc tế IRRI bên Philippines đem về trồng thử nghiệm tại khu thực nghiệm của trường để tìm xem giống lúa nào thích hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của Việt Nam, sau đó mới phổ biến đại trà cho nông dân. Sau khi giống lúa IR36 trồng thử nghiệm thành công vào năm 1983, chúng tôi tiếp tục tìm kiếm và phát triển thêm các loại giống mới khác. Vì vậy hàng năm tôi thường sang bên Philippines và gặp được anh Thomas Hargrove lúc đó là Trưởng phòng Sản xuất của Viện Lúa quốc tế. Vợ của anh ta có nhờ tôi giúp chồng mình gạt bỏ những ý nghĩ này...
Tôi nhận lời và tìm cách  đưa Tom sang Việt Nam lúc đó đang bước vào thời kỳ đổi mới để anh thấy rằng kinh tế Việt Nam đang phát triển bình thường và hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.  Khi đưa anh về đến Chương Thiện ngày xưa tức là Long Mỹ thuộc tỉnh Hậu Giang bây giờ thăm những người nông dân thì họ rất mừng vì nhớ đến việc anh đã đem giống lúa Thần nông IR5, IR8 đến cho họ. Ông Phó chủ tịch huyện Long Mỹ tên Tư Rạng là người tiếp tôi và anh Thomas Hargroves đưa chúng tôi đi đến nhà anh Ba Liên là người nông dân đã từng làm việc với anh Tom trước đây. Trong bữa cơm trưa tại nhà anh Ba Liên, anh Tư Rạng mới nói :
“ Ngày xưa ông Tom vô đây, đường đi nước bước của ông chúng tôi đều nắm rõ bởi vì tôi là chỉ huy du kích ở vùng này còn ông Ba Liên chính là chú của tôi”.
Tom hoảng hồn hỏi lại : “ Tại sao ông không giết tôi, rất nhiều bạn Mỹ của tôi bị giết sao tôi lại được bỏ qua?”
Tư Rạng đáp : “ Trường hợp của anh thì khác, anh đem lúa giống giúp chú tôi và bà con trong vùng này làm ruộng xóa đói giảm nghèo nên chúng tôi coi anh như là bạn. Khi anh đi đến đâu thì chúng tôi luôn cho người bảo vệ anh.
Tom rất cảm động và khóc. Sau chuyến đi này Tom hết bệnh tâm lý về Việt Nam luôn.
Mấy chuyến sau gặp lại anh, anh có hỏi tôi rằng hiện nay người nông dân ở Việt Nam đang cần giống lúa nào để trồng ? Tôi trả lời rằng nếu có được giống lúa IR50404 là thích hợp nhất. Anh lấy cho tôi 20kg giống lúa này để đem về Việt Nam trồng thử nghiệm và từ đó nhân rộng ra”.

GSTS Võ Tòng xuân kể tiếp :
“ Mặc dầu giống lúa IR 50404 nấu không ngon cơm bằng giống lúa Jasmine nhập khẩu từ Thái Lan nhưng nó rất dễ trồng, năng suất và tính kháng rầy nâu cao. Nếu xay xát để làm bột gạo hay làm bún, bánh canh, bánh tráng.... thì thật là tuyệt vời. Chính vì vậy nó được coi như là giống lúa của người nghèo. Mặc dầu khi việc xuất khẩu lúa gạo gặp trục trặc, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng do nông dân trồng quá nhiều giống lúa IR 504304 chất lượng thấp nên không bán được hàng và khuyến cáo rằng chỉ nên trồng giới hạn khoảng 20% diện tích mà thôi nhưng người dân vẫn cứ trồng giống lúa này”. 

 

Hình 3 : GSTS Võ Tòng Xuân cùng các nông dân trên cánh đồng trồng lúa IR 50404.
Một nông dân sống lâu năm trong nghề giải thích với chúng tôi như sau :
“Nếu trồng loại lúa Jasmine thì phải tốn nhiều chi phí như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nhưng năng suất chỉ được tối đa 4-5tấn/hécta trong khi trồng loại IR 50404 thì năng suất có thể lên đến 6-7tấn/hécta còn nếu làm giỏi có thể lên đến 9 tấn/hécta mà sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu rất ít. Giá của hai loại lúa này chỉ chênh lệch nhau chừng vài trăm đồng/kg nên trồng giống IR 50404 thì vẫn lời hơn. Trên thế giới vẫn còn những người nghèo cần loại gạo này chứ những người có tiền sử dụng loại gạo cao cấp không được bao nhiêu. Vì vậy thương lái vẫn tìm đến chúng tôi để mua loại lúa này”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Thomas Hargroves còn đậm nhiều nét ly kỳ hơn. Ngoài việc làm với tư cách là chuyên gia về nông nghiệp, được vinh danh nhiều lần bởi các tổ chức nông nghiệp và các trường đại học, ông còn là một nhà báo viết về những khám phá và trãi nghiệm của mình trong thời gian sinh sống tại Philippines và Việt Nam. Ông đã xuất bản 2 quyển sách : Bí ẩn của hồ Taal : Cuộc sống dưới nước của một thành phố đã  biến mất dưới lòng hồ núi lửa tại Philippines (The Mysteries of Taal: A Philippine Volcano and Lake, Her Sea Life and Lost Towns) và “ Một con rồng sống mãi : Chiến tranh và lúa gạo tại đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam 1969-1971” (A Dragon Lives Forever: War and Rice in Vietnam's Mekong Delta 1969-1991).
Năm 1991 Thomas Hargroves về làm việc cho Trung tâm Quốc Tế Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới tại Colombia. Trong lúc lái xe đi làm ngày 23 tháng 9 năm 1994, ông bị du kích quân FARC bắt cóc trong 11 tháng. Trong thời gian sống chung với du kích FARC, ông tranh thủ ghi lại nhật ký trên bất cứ những mảnh giấy tìm được. Cuối cùng nhờ sự thương lượng của gia đình trả tiền chuộc nên ông mới được thả. Quyển hồi ký Long March to Freedom của ông trở nên nổi tiếng khắp thế giới và được dựng thành phim Proof of Life với diễn xuất của Meg Ryan và Russell Crowe vào năm 2000.
Khi chúng tôi viết những dòng này thì Thomas Hargroves đã qua đời cách nay 3 năm vào ngày 22 tháng 01 năm 2011 do bị suy tim. Thông tin về anh ít được nhắc đến trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam nên rất ít người nông dân Việt Nam biết được các giai thoại này. Có lẽ đã đến lúc cần  để họ biết rõ hơn giai thoại về “ anh Tom” , một nhà khoa học đã dành suốt cuộc đời của mình để lai tạo những giống lúa mới, giúp người dân nghèo tại Đông Nam Á có được những hạt gạo nuôi sống bản thân và vươn lên thoát nghèo.



 Hình 4 : Tác giả , GS Võ Tòng Xuân và nghệ nhân Phạm Phúc Giác.
LÂM THANH QUANG.



Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

NHỮNG NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG



NHỮNG NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM ISLAM Ở AN GIANG


Người Chăm ở An Giang thường sống tập trung thành làng ven các khu vực sông nước, thuộc các huyện An Phú, Tân Châu, Châu Phú, Phú Tân và Châu Thành... Họ được gọi là người Chăm Islam vì theo đạo Hồi để phân biệt với người Chăm Bà-ni ở Ninh Thuận theo đạo Bà La môn. Phần đông đồng bào Chăm ở An Giang thường sống bằng nghề chài lưới, làm ruộng, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống. Họ có một nền văn hóa mang bản sắc rất riêng và có sức cuốn hút đến lạ kỳ, dù trong đời thường hay các tập tục lễ, Tết, cưới xin…  Chính vì thế, nên hầu hết các hãng lữ hành quốc tế khi đưa khách nước ngoài đến An Giang, đều lồng ghép chương trình tham quan làng Chăm, để du khách có dịp chiêm ngưỡng những sắc thái văn hóa độc đáo mà không phải nơi nào cũng có được.


Hình 1  : Thánh đường Mubarak tại xã Châu Giang TX Tân Châu.

Thánh đường Mubarak thuộc xã Châu Giang, Thị xã Tân Châu được xem là một trong những thánh đường Hồi giáo đẹp nhất, được mô phỏng theo kiến trúc La Mã cổ. Đây là nơi mà những tín đồ Islam chăm chỉ đến cầu nguyện – nhưng thường chỉ có nam giới được tham dự. Chung quanh đây, những cư dân người Chăm sống hiền hòa với làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống được lưu giữ từ những thế hệ xa xưa. Họ làm ra những sản phẩm từ chất liệu tơ tằm quý giá, dùng để may những bộ lễ phục, áo cưới …với những hoa văn, họa tiết tinh xảo khó ai bì. Du khách cũng thường đến đây để mua những sản phẩm làm bằng thổ cẩm mang về, như ghi dấu chặng hành trình đầy ấn tượng đẹp đẽ của mình. Qua những khung cửa sổ có rèm che, dáng những cô gái Chăm dịu dàng trong trang phục truyền thống, khoát những chiếc khăn voan ngồi bên khung cửi, tay thoăn thoát đưa thoi đã gợi lên bao nét đẹp mơ màng, huyền ảo. 

 

Hình 2 : Cô gái Chăm bên khung cửi. 


Hình 3 : Du khách nước ngoài mua sắm hàng thổ cẩm tại làng Chăm Đa Phước.

 Nhưng như thế vẫn chưa sá gì nếu được đến tham quan lễ cưới theo nghi thức truyền thống của những chàng trai, cô gái Chăm ở An Giang. Vào buổi tối hôm trước ngày lễ chính thức, bạn gái của cô dâu đến chúc mừng rất đông. Họ diện những bộ trang phục lộng lẫy, được may theo đúng kiểu truyền thống với áo dài không xẻ tà, chất liệu sang trọng như gấm, nhung, có màu sắc rực rỡ hài hòa, được đính thêm nhiều kim sa lấp lánh. Trên đầu đội những chiếc khăn voan (khăn “khanh-ma-om”) xinh xắn bỏ lửng qua vai, càng tăng thêm phần yêu kiều, đài cát. Đêm xuống trong ánh đèn huyền ảo, nhìn dáng vẻ thanh tân với những bước đi uyển chuyển của các cô gái Chăm xinh đẹp đến mừng lễ cưới, người ta thường có cảm giác bâng khuâng như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, không biết rằng thực hay đang mơ về thế giới của ngàn lẻ một đêm…

Người Chăm tiến hành nghi thức cưới theo tục đưa rể. Khi nhà trai chuẩn bị rời nhà để đưa chú rể sang nhà gái, bạn bè của chú rể cùng mọi người hát vang bài “La mệ - La mư” để từ giã cha mẹ với tình cảm thâm trầm, xúc động. Tiệc cưới của người Chăm không kéo dài, mà chủ yếu là để thắt chặt tình thân giữa gia đình, họ tộc. Trong các buổi tiệc của người Chăm Islam không sử dụng rượu vì đây là điều cấm kỵ của đạo Hồi.


Hình 4 : Cô dâu người Chăm và các phù dâu.
 
Tuy nhiên, không vì thế mà người Chăm thiếu những món ẩm thực truyền thống. Trái lại, họ có cả một kho tàng ẩm thực mà độ tinh túy không thua kém bất cứ nhóm cư dân nào trên địa bàn. Đó là những món ăn thường được các bà nội trợ khéo tay thi thố trong các dịp trọng đại như lễ Roya Phik Trok sau khi kết thúc tháng chay Ramadan, lễ Roya Haji mừng năm mới v.v… 

Món ăn được nhiều người quan tâm nhất có lẽ là món Cà-púa – một loại cari rất đặc biệt đã làm thành món đặc sản của người Chăm An Giang. Nhiều năm trước đây, món Cà-púa được bán tại khu đặc sản đường Nguyễn Văn Linh, thành phố Hồ Chí Minh chính là do các nghệ nhân của làng Chăm Phú Hiệp (huyện Phú Tân) đảm trách. Ngoài việc cung ứng cho thực khách trong nước, món Cà-púa của bà con người Chăm xã Phú Hiệp đã nhiều lần “xuất khẩu” đi các nước, để  làm vơi bớt nổi nhớ nhung quê nhà của những người Chăm đi xa xứ.
Để nấu món Cà-púa, các món gia vị như nghệ, xã, hành, tỏi đều được rang khô cho vàng và thơm trước khi dùng để ướp thịt bò phi-lê được xắt thành từng miếng lớn. Riêng dừa khô sau khi nạo vắt nước cốt sẽ thắng đến cô đặc. Dùng các loại gia vị đã rang vàng để xào với thịt cho đến khi chín, nêm nếm, ướp thêm  ca ri và bỏ vô nồi nước cốt dừa đã thắng nấu thêm cho đến khi mềm rục.
Bấy giờ, chất cay nồng của gia vị, chất  ngọt của thịt, chất béo của dừa cùng quến lại, tạo nên một loại súp đặt sệt với hương thơm đầy quyến rũ. Chính cách nấu này đã làm cho món Cà-púa để được rất lâu, nếu bảo quản kỹ trong tủ lạnh có thể sử dụng hàng tháng, với  đặc điểm là càng lâu càng thấm và ngon hơn.
Về phong tục, tập quán, đây là món ăn mà hầu như gia đình nào cũng nấu để dâng cúng tổ tiên sau khi kết thúc tháng chay Ramadan. Bấy giờ, những người đi làm ăn xa đều quay về nhà để tận hưởng không khí ấm cúng, sum vầy của lễ hội Royal.  Khi khách quý đến nhà, chủ nhân sẽ mời ăn món Cà-púa, như một cách thể hiện sự quý mến, chúc phúc, chúc lộc cho nhau để cùng may mắn trong năm mới.


Hình 5 : Món ăn Cà Púa một đặc sản của người Chăm.

 Về các loại bánh trái, người Chăm ở An Giang cũng có những món bánh rất đặc trưng, xem như không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên trong các dịp cưới xin, mừng năm mới. Một số  món bánh ngọt của đồng bào Chăm Châu Phong có cách làm rất tỉ mĩ, như bánh Gừng (Pa-tờ-ngự), bánh Nghệ hay bánh ba nhẫn (Ha Tpay Crah), bánh tổ chim … . Họ thường chọn loại nếp tốt, ngâm, gút nước rồi giả kỹ cho đến khi thành một loại bột nhuyễn. Với bánh Gừng, người ta nhồi bột với trứng rồi thắt thành hình ngôi sao năm cánh. Đem bánh chiên chín, để ráo dầu rồi ướp đường. Sau khi bánh thấm đường và trở nên ngọt, mới ướp tiếp lớp đường thứ hai bằng loại đường cát mịn làm cho bánh có màu trắng tinh khôi, trông như một vì tinh tú thật sự. 


Hình 6 : Bánh tổ chim của người Chăm.  

Món bánh tổ chim mới thật là kỳ công. Để làm món bánh này, nếp cũng vẫn phải đâm và rây thật nhuyễn rồi nhồi với trứng hoặc nước cho lỏng vừa phải. Bắc chảo dầu sôi, rây bột qua một chiếc rây đặc biệt bằng gáo dừa có đục những lỗ nhỏ li ti. Do được kết thành từng mãng với những sợi bột nhỏ và cực mảnh, bánh rất mau vàng và có thể khét rất nhanh nên đòi hỏi người làm bánh phải nhanh tay. Khi vừa đủ độ chín, sẽ dùng chiếc que tre sắp đôi bánh lại như hình chiếc tổ chim. Vớt ra cho ráo dầu rồi thắng nước đường vẩy lên bánh. Vì loại bánh này khó làm và đòi hỏi nhiều thời gian lẫn sự khéo tay, nên rất kén người làm, và người ta chủ yếu chỉ thực hiện trong những ngày lễ quan trọng, hoặc các dịp cưới hỏi.
Nền văn hóa của mỗi dân tộc đều có cái hay, cái đẹp riêng. Bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống đó cũng chính là cách để chúng ta giữ gìn kho tàng di sản tinh thần vô giá và giúp cho tinh hoa của các dân tộc có điều kiện tỏa sáng. 
  
 LÂM THANH QUANG

Bài viết đã được đăng trên báo Văn Hóa ngày 24 tháng 1 năm 2014. Mọi trích dịch và sử dụng nguồn tư liệu này phải được sự đồng ý của tòa báo và tác giả.












Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Lễ cúng Trăng và dua ghe ngo, nét văn hóa độc đáo của người Khmer Nam Bộ.



LỄ CÚNG TRĂNG VÀ ĐUA GHE NGO
NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ.


Sống trong nền văn minh lúa nước mà nền tảng là Phật giáo Tiểu thừa, người Khmer quan niệm rằng những hạt gạo mình làm ra là do Trời Phật ban tặng. Vì vậy sau mùa thu hoạch khi nước đã rút khỏi cánh đồng, họ tổ chức lễ hội Ooc Bom Boc để dâng những hạt gạo mới lên cúng Trời Phật và mặt Trăng. Lồng trong lễ hội này là những loại hình văn hóa như là hát dù kê, thả đèn trời, đèn nước, thi nhảy bao, đập nồi.... nhưng độc đáo nhất là lễ hội đua nghe ngo được tổ chức tại những tỉnh có nhiều đồng bào Khmer sinh sống như Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau....


Hình 1 : Giàn nhạc ngũ âm nơi sân lễ.
 
 Hình 2 : Bàn thờ cúng trăng ngày lễ Ooc Om Bóc.

Lễ được tổ chức hằng năm vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, chỉ những năm nhuận mới được cúng trước 1 tháng. Những hạt lúa nếp mới trong những chiếc cối đá được hai người luân phiên giã để  làm thành cốm dẹp. Sau khi đã loại bỏ sạch trấu, những hạt cốm dẹp được giữ gìn cẩn thận để chờ ngày đem ra cúng trăng. Công việc này được chuẩn bị hàng tháng trước ngày lễ Ooc Bom Boc. Vào đêm rằm, một mâm cỗ với đầy đủ lễ vật như trái cây, hương hoa mà món không thể thiếu là cốm dẹp trộn với dừa nạo sẳn được bày ở bàn hành lễ giữa sân chùa vào lúc mặt trăng chuẩn bị lên khỏi đỉnh đầu.  


Hình 3 : Nhà sư làm phép trước khi bắt đầu vào lễ.


Hình 4 : Du khách nước ngoài tham quan lễ cúng trăng.
 
Những em bé trong làng rủ nhau tập trung tại sân hành lễ để nghe À- Cha là vị trưởng làng lớn tuổi có uy tín được mọi người kính trọng giới thiệu ý nghĩa của lễ cúng trăng. Các nhà sư được mời đến để ban phúc cho mọi người . Tất cả cùng nhau thắp hương khấn vái cám ơn Trời Phật và mặt Trăng đã ban cho mình những hạt lúa mới và cầu xin cho mùa sau sẽ được nhiều hơn. Sau khi cúng xong lần lượt những người già cả, trẻ em sẽ được đút từng miếng cốm dẹp để tận hưởng hương vị ngọt ngào của hạt lúa mới.


 Hình 5 : Đút cốm dẹp và bánh cho các em bé.



Hình 6 : Đọ sức.
 
Ghe ngo là tài sản quí báu của những ngôi chùa trong các phum sóc. Mỗi địa phương như xã, thôn đều có một ngôi chùa riêng của mình để người dân thường xuyên đến cúng bái và đây cũng là nơi các thiếu niên đến học đạo. Đây là một tập tục lâu đời của người Khmer bởi vì họ quan niệm rằng trước khi đến tuổi trưởng thành người thanh niên phải đến chùa học đạo để rèn luyện đạo đức và trả ơn cha mẹ. Thời gian tu có thể là vài ba năm nhưng cũng có một số xin ở lại chùa để trở thành tu sĩ. Nhà chùa chính là nơi họ gởi gấm cả về tâm linh lẫn vật chất nên thường được xây dựng rất trang trọng và đây cũng là nơi lưu trữ và bảo quản những chiếc ghe ngo sau mùa lễ hội. Ghe ngo thường dài từ 20-30m trước đây được làm bằng thân cây sao được đục rỗng ruột nhưng sau này vì không tìm được cây lớn để làm ghe nên đành phải dùng ván sao ghép lại bằng nhiều mảnh.


Hình 7 : So kè.


Hình 8 : Về đích.
 
 Ghe được chế tạo mô phỏng theo thân hình của rắn thần Nagar mà theo truyền thuyết đã từng đưa Đức Phật Thích Ca qua sông với đầu ghe có hình đầu rắn còn hai bên lườn ghe được vẽ những hoa văn rực rở. Những hoa văn giúp người xem phân biệt là ghe của chùa và địa phương nào. Yếu tố quyết định hơn thua trong việc đua ghe chính là hình dạng mũi ghe để rẽ nước tốt và một thân cây được đặt dài từ đầu đến cuối ghe để giữ ghe thăng bằng mà dân trong nghề gọi là “ Cần câu”. Chiếc cần câu này giúp cho trọng tâm luôn đặt ở giữa ghe giúp ghe không bị lật khi đua ở tốc độ cao. Yếu tố thứ hai chính là người cầm nhịp ( Chi-khbal ) cho những tay chèo (Ch’rò-wa) ngồi ở hai bên thuyền. Những tay chèo này được chọn từ những thanh niên cường tráng trong phum sóc được tập luyện cả tháng trước khi vào cuộc đua. Trước đây chỉ có nam thanh niên mới được tham dự còn bây giờ mở rộng cho cả nữ giới. Yếu tố này làm cho cuộc đua thêm phần hào hứng.


Hình  8 : Vui mừng chiến thắng.

Festival Đua ghe ngo Đồng bào Khmer Đồng bằng sông Cữu Long-Sóc Trăng nhân dịp lễ hội Ooc Om Boc tại tỉnh Sóc Trăng năm nay được tổ chức từ ngày 14 đến 17 tháng 11 năm 2013 tức nhằm ngày 12 đến 15 tháng 10 âm lịch. Ngoài việc tiến hành lễ cúng trăng và đua ghe ngo, tại đây còn diễn ra các lễ hội văn hóa khác nữa như hội diễn nghệ thuật Dù kê, trình diễn các trang phục dân tộc Kinh, Hoa, Khmer tại sân khấu công viên 30 tháng 4, thả đèn nước trên đoạn sông Maspero trong nội ô thành phố... Riêng đối với việc tranh tài đua ghe ngo, ban tổ chức đã xây dựng một khán đài rộng lớn bên dòng sông Maspero đi ngang qua thành phố Sóc Trăng là nơi diễn ra cuộc đua. Ngay từ sáng sớm người dân đã nô nức đi về nơi lễ dài để tìm cho mình một chỗ tốt để xem đua ghe mặc dầu đến giữa trưa chờ con nước đứng cuộc đua mới bắt đầu.  Những chiếc ghe ngo từ các đơn vị tham gia cuộc đua tranh thủ thời gian tập dợt trước khi vào cuộc đua chính. Tiếng vỗ tay cùng tiếng hò hét của các cổ động viên đi theo ủng hộ gà nhà khiến không gian thêm phần sôi động. Điều này làm các du khách nước ngoài tham dự lễ cũng vui lây và máy ảnh trên tay cứ thi nhau lóe sáng. Cũng không ít những chiếc áo vàng sậm của những nhà sư đi theo ủng hộ đội ghe ngo của chùa mình. Sự kết hợp giữa đạo và đời diễn ra một cách hài hòa và bình dị như tấm lòng của đồng bào Khmer sống trong vùng đất Nam Bộ này. 
Cuộc đua đã sôi nổi ngay từ đầu bởi vì mỗi đội đua đều muốn đem giải thưởng về cho đơn vị mình và mỗi vòng đấu ban tổ chức đều có giải thưởng riêng. Tiếng reo hò cổ vũ ca người xem khiến các tay đua thêm phần hưng phấn, các mái chèo tăng tốc tối đa theo hiệu lệnh của người cầm nhịp làm nước ở hai bên ghe văng tung tóe theo nhịp chèo. Đội đua nữ của chùa Ngan Dừa Bạc Liêu đã giành được huy chương vàng. Còn đội nam của huyện Càng Long Trà Vinh đứng đầu đội nam vượt qua đội chủ nhà. Mặc dầu vậy cả hai đội thắng và thua cùng vui vẻ bên nhau trong vũ điệu Lăm-thôn ngay tại lễ đài và giơ cao cờ chiến thắng. Trên khán đài khán giả cũng cùng nhau nhảy múa để mừng đội thắng cuộc. Đây là một nét văn hóa độc đáo của người Khmer sống trên sông nước ở vùng đất Nam bộ.
Mặc dầu giải thưởng chỉ mang tính khích lệ :  Đội về nhất được thưởng 200 triệu đồng còn đội về nhì là 150 triệu đồng nhưng đây là niềm tự hào lớn lao cho các vận động viên lẫn ngôi chùa và địa phương được giải. Một nữ vận động viên vốn là công nhân của một xí nghiệp chế biến thủy sản tại tỉnh Sóc Trăng tâm sự : vì đam mê mà em xin nghỉ làm tại xí nghiệp cả tháng nay để tham gia vào đội đua. Ngày mai em sẽ nộp đơn xin đi làm và em hy vọng rằng xí nghiệp sẽ thông cảm và nhận em vào làm việc trở lại.


Hình 9 : Trao giải cho đội nữ thắng cuộc.

Cuộc đua được khép lại trong niềm tiếc nuối của  những người dân tại địa phương cũng như từ nơi khác tới. Hẹn gặp lại các bạn tại lễ hội Festival đua ghe ngo lần tới sẽ có sự góp mặt của nhiều đơn vị đến từ các tỉnh bạn tham gia và tranh tài quyết liệt hơn năm nay. 

Hình 10 : Trao giải cho đội nam thắng cuộc.

Bảo vệ  di sản văn hóa phi vật thể này không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng  mà còn là niềm mong mỏi của người dân Việt, Hoa và Khmer cùng sống chung với nhau trên sông nước của vùng đất Nam Bộ này.

LÂM THANH QUANG