Trang

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Búng Bình Thiên Viên ngọc xanh quý giá của vùng châu thổ sông Cửu Long




Búng Bình Thiên
Viên ngọc xanh quý giá của vùng châu thổ sông Cửu Long


Dù có đi khắp vùng châu thổ rộng lớn của đồng bằng sông Cửu Long,  nếm trãi vị ngọt lành của bạt ngàn cây trái miệt vườn, tận hưởng vẻ đẹp hoang sơ của vùng trũng Đồng Tháp Mười mênh mông hay đến với những cánh rừng ngập nước, những vùng dự trữ sinh quyển với vô số loài động, thực vật kỳ thú,  bạn cũng sẽ như tôi sẽ bị mê hoặc nếu một lần có dịp “chạm mặt” Búng Bình Thiên, thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang !


 Hình 01 : Du khách tham quan Búng Bình Thiên.

Cảm nhận đầu tiên mà Búng Bình Thiên mang đến cho chúng ta là cảm giác êm đềm, dịu mát giữa một không gian xanh trãi rộng đến hút tầm mắt. Đó là một vùng trời nước bao la, được tạo nên bằng bàn tay kỳ diệu của tạo hóa.  Mùa khô, mặt nước đã rộng đến 300 héc-ta, và hiện tại, vào năm nước lớn như năm nay, diện tích mặt nước lên đến khoảng 900 héc-ta.  Chung quanh hồ nước khổng lồ đó là những rặng cây xanh soi bóng xuống dòng nước mát, xa xa mới có những nếp nhà ẩn dưới những khu vườn nhỏ ven bờ… Không gian yên ả miền quê nửa như gần gũi, nửa như xa vắng , khiến thời gian dường như trôi đi chậm hơn, để du khách dạo chơi bằng thuyền trên mặt nước tận hưởng trọn vẹn những thời khắc bềnh bồng, phiêu lãng, trước một khung cảnh thiên nhiên quá đổi thơ mộng, quá đổi thanh bình !  


 Hình 2 : Mênh mông giữa trời nước.

Theo các nhà khoa học thì do địa hình của Búng Bình Thiên có những mạch nước ngầm ăn thông với nhánh sông Mê kông bên ngoài nên mặt nước bên trong có thể dâng cao hay hạ thấp tùy theo mực thủy triều. Một điều kỳ diệu nữa là bên trong búng có chứa một loại tảo có khả năng lọc sạch những chất bẩn, những hạt phù sa lơ lửng trong nước nên quanh năm nguồn nước ngọt trong búng lúc nào cũng trong xanh, một màu xanh trong lành, tinh khiết thể hiện sức sống vô tận, bốn mùa phẳng lặng không hề gợn sóng, và ẩn chứa vô số loài cá, tôm để nuôi sống cư dân. Âu đó cũng là sự ban phát đầy ưu ái nhưng cũng rất công bằng của tạo hóa, như để bù đắp cho những cư dân hiền hòa, mộc mạc sinh sống quanh búng được dễ chịu hơn trước khi mọi người khám phá ra sức quyến rũ của nó. 


 Hình 3 : Thi hái bông điên điển.

Và mùa này, vẻ đẹp của Búng Bình Thiên còn được tô điểm thêm bởi những vạt điên điển trổ bông vàng rực mặt nước, cùng với nguồn thủy sản cá tôm sinh sôi nẩy nở đầy đàn…! Đó cũng là lý do khiến những công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành chọn lựa đúng thời điểm để đưa khách du lịch ở các vùng khác về tham quan mùa nước nổi ở An Giang . 

 

 Hình 4 : Gở lưới cá linh.


 Hình 5 : Quá vui.

Đi du lịch theo tour khám phá mùa nước nổi do Công ty Cổ phần Du lịch lữ hành An Giang tổ chức tại Búng Bình Thiên, đoàn khách tham quan đến từ các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã tỏ ra vô cùng thích thú trước một khung cảnh lạ lẫm mà từ trước đến nay họ chỉ nghe nói đến nhưng chưa từng được “mục sở thị”! Họ háo hức chen nhau xuống thuyền. Ngay lập tức, những chiếc đò máy – phương tiện đưa rước du khách của đồng bào Chăm trong vùng đã đầy ắp người. Sau khi đã phân phát áo phao và bố trí chỗ ngồi vững chắc trên thuyền, chiếc máy “đuôi tôm” trang bị trên thuyền được người lái nổ máy, tiếng động cơ xình xịch rẽ nước lẫn tiếng nói cười rôm rã của khách làm xáo động không gian yên bình của bến sông. Con đò nhanh chóng tách bến để đưa du khách đi ngoạn cảnh dọc theo những làng mạc ven sông, thi thoảng lại dừng lại để thưởng thức phong cảnh đẹp, chụp những bức ảnh lưu niệm đáng nhớ, hoặc nhổ bông súng đồng, hái bông điên điển… Họ vừa vui chơi, vừa tham gia thi tài dưới sự điều hành khéo léo của các hướng dẫn viên du lịch. Theo đó, là xem ai hái được nhiều bông điên điển nhất, hoặc gỡ được nhiều cá từ những mẽ lưới được giăng ven bờ. Buổi trưa, cả nhóm rời thuyền, lên bờ nghỉ ngơi, thưởng thức những món ăn dân dã được chế biến từ nguồn nguyên liệu tại chỗ của mùa nước nổi. Đó là những bát canh chua nóng bốc khói nghi ngút được nấu với cá lóc đồng, bông súng, bông điển điển , hay mẽ cá rô kho tộ vừa béo ngậy vừa thơm lừng… Bụng đói, lại được thưởng thức những món ngon đồng nội, khiến cho nồi cơm nóng vơi cạn lúc nào không hay…!

                 
  Hình 06 : Món ăn đặc trưng của miền sông nước :
Cá linh nướng, canh chua bông điên điển cá linh, Bông điên điển xào tép, cá lóc kho tộ....


                                                              
                  Hình 07 : Bửa ăn dân dã.        
                                          



                                                        Hình 8 : Bánh xèo bông điên điển.
                                     
Nhiều năm qua, khu du lịch Búng Bình Thiên được huyện An Phú giới thiệu đến du khách, khách tham quan thông qua các lễ hội truyền thống, và một dự án du lịch sinh thái cũng đã được khởi động. Tuy nhiên, do khoảng cách về mặt địa lý, nhiều doanh nghiệp vẫn ngần ngại đầu tư vào đây. Đây là một điều đáng tiếc, nhưng nếu phân tích kỹ, sẽ thấy đó chính là một cơ hội lớn cho những nhà đầu tư có tầm nhìn. Nguyên nhân là Búng Bình Thiên vẫn còn giữ được vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, tĩnh lặng vốn có, điều rất cần để quy hoạch một khu du lịch sinh thái đúng nghĩa. Trong đó, vốn tài sản quý giá nhất là mặt hồ suốt bốn mùa lúc nào cũng phẳng lặng trong xanh như một chiếc gương soi. Đó chính là viên ngọc quý giữa châu thổ đổng bằng sông Cửu Long mênh mông, đang chờ đợi những bàn tay, khối óc tài hoa để biến thành một khu du lịch mang dáng vẻ của thiên đường…! 

LÂM THANH QUANG







Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

Lễ hội đua bò Bảy Núi năm 2013.



Lễ hội đua bò Bảy Núi  
Ngày hội vui của người dân Khmer nhân lễ Sel Dolta  


Hình 1 : Các đôi bò thi đấu diễn hành trên sân.

Lễ hội đua bò Bảy Núi gắn liền với ngày lễ Sel Dolta là một tập tục lâu đời của người dân Khmer vùng Bảy Núi. Từ năm 1992, lễ hội được hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn  luân phiên tổ chức  tại chùa Thom Mít (huyện Tịnh Biên) và chùa Tà Miệt (huyện Tri Tôn). Đến năm 2009, đổi tên thành Lễ hội đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang. Những năm gần đây, lễ hội đua bò Bảy Núi mở rộng thu hút sự tham gia của  người kinh và một số tay đua ở các tỉnh, thành trong khu vực ĐBSCL và nước bạn Campuchia. 
 Lễ hội đua bò Bảy Núi lần thứ 22 năm nay được tổ chức tại chùa Thom Mít huyện Tịnh Biên vào ngày 04/10/2013 với sự tham gia của 64 đôi bò đến từ các huyện trong tỉnh An Giang, Kiên Giang và Sóc Trăng.  





Hình 2 : Người dân xem thi đấu trong trật tự.

Ngay từ sáng sớm, hơn mười ngàn người từ các nơi tập họp về sân thi đấu tại  chùa Thom-mít, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên để xem trận đấu và càng về trưa số lượng người đổ về ngày càng đông. Sân thi đấu là một khoảng đất trống phía sau chùa có chiều ngang khoảng 100m dài 200m, xung quanh được đắp bờ cao để người xem có thể trông rõ và cổ vũ cho cuộc đua. Đường đua có bề rộng khoảng 8 mét,  đào sâu xuống 10 cm, được trục sới nhiều lần để tạo mặt bằng tơi xốp. Trước cuộc đua, ban tổ chức còn cho bơm nước vào tạo nên một lớp sình mỏng giúp cho những đôi bò có thể chạy thỏa sức trên nền đất mềm. Vùng Bảy Núi có ưu điểm là lớp đất nền cứng, nhiều cát hơn thịt, không lún hoặc trơn trợt nên thích hợp cho cuộc đua hơn những vùng khác. Hai bên đường đua có cắm cờ hiệu và căng dây để giới hạn đường đua. 


Hình 3 : Các phóng viên ảnh tác nghiệp.
 
Các đôi bò được chia thành 2 bảng thi đấu theo phương thức loại trực tiếp. 4 đội nhất ở 2 bảng sẽ thi đấu ở vòng bán kết. Hai đôi thắng cuộc sẽ tranh giải nhất, nhì còn 2 đôi thua cuộc sẽ tranh giải ba, tư. Chính thể thức này tạo nên nhiều kịch tính trên sân thi đấu do người xem không thể nào đoán trước được kết quả.

 

Hình 4 : Bắt đầu cuộc thi.

Để tham dự cuộc đua, từng đôi bò được ách vào một chiếc bừa đặc biệt, giàn bừa là một tấm gỗ dày hơn 6cm, rộng 30cm, dài 90cm bên dưới là giàn răng bừa ngắn. Nài đua là những chàng trai trẻ người Khmer có vóc người nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, tay cầm một khúc gỗ đầu có gắn một đinh nhọn gọi là Xà-Lul. Ở chặng nước rút, người nài một chân đứng trên giàn bừa còn chân kia đứng trên thanh gỗ nối gông cổ bò với giàn bừa , vung cây xà-lul liên tục chích vào mông bò, thúc dục đôi bò lao thẳng về phía trước.


 Hình 5 : Tranh tài quyết liệt.

Để rút ngắn thời gian thi đấu, năm nay phương thức tranh tài cũng có chút thay đổi. Đường đua được chia ra làm 2 phần : Phần đầu tiên khoảng 200m thi đấu vòng hô còn phần còn lại 120m  thi đấu vòng thả. Do xuất phát cách nhau 4 mét nên mức đến cũng cách nhau 4m để đảm bảo công bằng cho hai đôi bò thi đấu. Trong vòng thả, nếu đôi bò phía sau vượt trước hay chạm vào gian bừa của đôi đi trước thì sẽ xem như thắng cuộc. Yếu tố này đòi hỏi sự gan dạ và tài khéo léo của người nài nên các chủ bò chỉ dùng chiến thuật này ở trận bán kết hay chung kết để tránh cho đôi bò bị tổn thương. Nó cũng làm tăng thêm kịch tính ở vòng chung kết.



 

Hình 6 : Chỉ còn một mình, tội gì vội.

 

Hình 7 : Khán giả leo lên cây để xem cho đã.
Kết quả, Ban Tổ chức đã trao các giải thưởng nhất, nhì, ba, tư và 2 giải khuyến khích cho chủ nhân các đôi bò thắng cuộc đua. Ông Nguyễn Văn Lâm, thuộc xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là chủ đôi bò mang số 16  đoạt  giải nhất mùa giải năm 2013 với phần thưởng là một chiếc Super Dream trị giá 19 triệu đồng, 1 tivi, 10 thùng nước giải khát Number One, đồng thời  vinh dự nhận Giải người điều khiển bò xuất sắc nhất với cờ , Cúp vô địch và tiền thưởng 10 triệu đồng.


Hình 8 : Chiêu ép đối thủ.


Hình 9 : Chiêu này vẫn hiệu quả trong cuộc thi.


Hình 10  Tăng tốc vể đích.


Hình 11 :  Đôi bò này bỏ đường đua chạy vòng trên sân.


Hình 11 : Bỏ xa đối thủ. 


Hình 12 : Chiêu này vẫn còn tác dụng.


Hình 13 : Phạm qui rồi.


Hình 14 : Bò về đích nhưng chú nài mất tiêu rồi.

 
Hình 15 : Chiến thắng rồi.

Được biết, chủ nhân 6 đôi bò đoạt giải tại Lễ hội đua bò Bảy Núi năm 2013 sẽ được tham dự Tuần lễ Đại đoàn kết các dân tộc di sản văn hóa Việt Nam và Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam, diễn ra ở Sơn Tây, Hà Nội từ 18 đến 24 tháng 11 năm 2013.
LÂM THANH QUANG




























Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Những tập tục của người Khmer Nam Bộ trong những ngày lễ, tết.


NHỮNG TẬP TỤC CỦA NGƯỜI KHMER NAM BỘ
TRONG CÁC NGÀY LỄ, TẾT.
An Giang là một trong những tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long có nhiều dân tộc cùng sinh sống với nhau. Ngoài dân tộc Kinh và Hoa vốn có nhiều tập tục và nét sinh hoạt  khá tương đồng với nhau, người Khmer Nam bộ và người Chăm vẫn giữ gìn những nét văn hóa riêng biệt của mình, nhất là những tập tục trong các ngày lễ tết và các ngày lễ lớn trong năm.
Vùng đất Nam Bộ đã có một bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Sau khi vương quốc Phù Nam bị xóa tên trên bản đồ do Hải xâm Holoxen IV vào thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên, người dân tại đây quay về chốn cũ nơi họ đã từng sinh sống trên bán đảo Mã lai. Một số khác tiến sâu vào đất liền và trở thành một bộ phận của dân tộc ít người ở vùng Nam Cát Tiên thuộc Nam Trung Bộ của Việt Nam. Trong khi đó, cả vùng Nam bộ bị nhấn chìm trong biển nước từ năm 650 đến năm 1150. Sau khi nước biển rút đi, phù sa từ sông Cửu Long bồi lấp khiến nơi này trở thành một vùng đất mới hoang sơ : 6 tháng bị nhấn chìm trong biển nước từ thượng nguồn đổ về, 6 tháng còn lại là điều kiện rất tốt để làm lúa nước bởi vì lượng phù sa này chính là nguồn cung cấp dưỡng chất tốt nhất cho cây trồng. Người Chân Lạp xuôi dòng Cửu Long tìm đến vùng đất mới này lập nghiệp và họ gọi đó là Thủy Chân Lạp để phân biệt với vùng Lục Chân Lạp cao hơn nằm sâu trong đất liền.
Người Chân Lạp đến khai phá vùng đất Nam bộ nhiều nhất vào thế kỷ thứ 17 nhờ công của Công nữ Ngọc Vạn. Bà là con gái thứ 2 của Chúa Sải Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), được gả cho vua nước Chân Lạp là Chey Chetta II và trở thành Hoàng hậu nước Chân Lạp với tước hiệu là Somdach Prea Peaccayo dey Preavoreac.
Bà khéo léo trong việc cư xử trong triều đình nước Chân Lạp nên được người Chân Lạp cảm mến. Trong cuộc tranh gianh quyền lực trong triều đình Chân Lạp sau khi vua Chey Chetta II mất, vì sợ bị liên lụy nên bà xin vua Rama Chan  ( Nặc Ông Chân )  cho người con của bà là Chan Ponhéa Sô ( Nặc Ông Nộn ) đến lập nghiệp tại vùng Prey Nokor ( vùng Sài Gòn, Chợ Lớn ngày nay). Bà thông thạo hai thứ tiếng Việt và Khmer lại biết chữ Hán, am hiểu kinh Phật của hai phái Đại Thừa và Tiểu Thừa nên được nhiều người dân kính phục. Nam bộ trở thành vùng “Đất lành, chim đậu”thu hút nhiều cư dân từ các nơi đến lập nghiệp như người Kinh và Hoa ở “Đàng Trong” và người Chăm từ các vùng trên bán đảo Mã Lai và phía Tây Campuchia giáp với Thái Lan ngày nay.
Mặc dầu sống chung với nhau trong cùng một cộng đồng, người Khmer Nam bộ vẫn giữ nét đặc trưng của văn hóa dân tộc mình là theo Phật Giáo Tiểu thừa xuất phát từ Tích Lan ( Sri-Lanka ngày nay), và các ngày lễ tết khác như Chôl-Thnăm- Thmây ( Mừng năm mới), Sel Dolta ( Báo hiếu ông bà, cha mẹ), Óoc- Om-Bóc ( Lễ cúng trăng mừng lúa mới)... Kết hợp với các lễ này là phần hội như là trình diễn các điệu múa Lâm-thôn, Apsara, hát dù kê, dì-kê cùng với các thú vui khác như Đua bò Bảy Núi ở An Giang, đua ghe ngo ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Kiên Giang.... Những lễ hội này tạo nên một bản sắc riêng rất độc đáo của dân tộc Khmer.
NHỮNG NGÀY LỄ, TẾT CỦA DÂN TỘC KHMER.
1.     Lễ mừng năm mới Chol Thnăm Chmây :


 Hình 01 : Múa Lâm thôn trong ngày lễ hội.

Không như người Kinh và Hoa bắt đầu năm mới bằng tết Nguyên Đán, người Khmer mừng năm mới bằng lễ Chol Thnăm Chmây ( Mừng được thêm một tuổi). Lễ này bắt đầu vào khoảng tháng 4 âm lịch và người Khmer Nam bộ tạm dừng việc đồng áng và vui chơi trong vòng 3 ngày. Tập quán này bắt nguồn từ nền nông nghiệp lúa nước mà dân tộc Khmer đã xây dựng cách nay hàng nghìn năm. Vào khoảng tháng 11 âm lịch khi nước trên dòng sông Cửu Long bắt đầu rút khỏi cánh đồng, người Khmer bắt đầu chuẩn bị cho việc xuống giống. Do lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho cây lúa nên họ không cần bón phân mà chỉ cần gieo hạt bằng phương pháp sạ. Lúc này côn trùng đã bị tiêu diệt trong mùa lũ nên cũng không cần dùng đến thuốc trừ sâu bọ như hiện nay. Do lúa giống là loại lúa mùa nên thời gian từ lúc gieo hạt đến lúc thu hoạch cũng gần 6 tháng. Loại lúa mùa này như Nàng Nhen, Sóc Hường.... mặc dầu năng suất thấp nhưng có ưu điểm là rất dễ trồng mà không cần chăm sóc nhiều. Sau khi thu hoạch xong họ mới bắt đầu vào lễ Chol Thnăm Thmây để cám ơn Trời Phật đã giúp cho họ được “cơm no, áo ấm” và sống được thêm một năm trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên. Trong ngày lễ hội này, các thanh niên nam nữ quay quần bên nhau trong điệu múa “ Lâm-thôn” còn người già đi thăm hỏi lẫn nhau và cùng nhau xem các tuồng hát dù kê, dì kê do các nghệ nhân tại địa phương biểu diễn hay các đoàn hát được mời từ nơi khác đến. Đây cũng là lúc họ chọn những cô dâu, chú rễ tương lai cho mùa cưới sắp đến.


Hình 02 : Lễ trao hoa mâm bông cau trong đám cưới Khmer Nam bộ.


2.     Lễ Sel-Dolta :
Người Khmer chịu ảnh hưởng của Phật Giáo Tiểu thừa nên ngôi chùa chính là nơi họ gởi gấm tâm linh khi còn sống và tro cốt sau khi được hỏa táng gởi lại khi họ qua đời. Vì vậy khi đến thăm các vùng có người Khmer sinh sống, chúng ta sẽ gặp nhiều ngôi chùa được xây dựng hoành tráng mặc dầu đời sống người dân ở đây còn nhiều khó khăn. Nam thanh niên khi bắt đầu trưởng thành sẽ được tu tập tại các ngôi chùa này. Họ sẽ được các nhà sư dạy giáo lý của nhà Phật và chữ Phạn để có thể đọc được những kinh sách cỗ được viết trên những tấm lá buông. Chùa Xvay-Ton A tại thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang hiện còn giữ những kinh sách giá trị này. Nếu sau thời gian tu tập, người nào muốn ở lại chùa thì sẽ được chọn lọc để thụ giới còn những người khác sẽ hoàn tục, lập gia đình vì đã được xem như trả hiếu đối với ông bà, cha mẹ.
Vào cuối tháng 8 âm lịch, sau khi tiến hành việc cày cấy và xuống giống cho lúa vụ 2, người Khmer tiến hành lễ Sel-Dolta để cầu siêu cho những người trong gia đình đã khuất và trả ơn cho nhà chùa đã chăm sóc về phần tâm linh cho mọi người. Thức ăn  do các nhà nấu được chứa trong các lồng bằng tre để dâng lên các nhà sư. Ngày nay các cặp lồng này được cải tiến bằng những chiếc “ gà-mèn” bằng kim loại. Sau khi đến chùa, những thức ăn này được trãi dài trên những chiếc chiếu hoa đặt trước mặt các nhà sư trong chùa. Mọi người sẽ cùng nhau cầu kinh trước khi các nhà sư nếm thử các thức ăn trong lồng. Thức ăn có thể là chay hay mặn bởi vì theo quan điểm của Phật Giáo Tiểu Thừa thì thức ăn dầu chay hay mặn cũng là lộc của trời ban tặng nên không thể bỏ phí.
Vào dịp này các địa phương vùng Bảy Núi của An Giang có tổ chức Lễ Hội đua bò Bảy Núi thu hút hàng chục ngàn du khách từ các nơi đến tham quan và ghi lại những hình ảnh đẹp.

 

Hình 03 : Đua bò trong Lễ hội đua bò Bảy Núi
3.     Lễ Óoc-Om-Bóc:
Lễ hội Óoc-Om-Bóc được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 lúc lúa ngoài đồng đã chín và vừa thu hoạch xong. Để tạ ơn thần Mặt Trăng và mong cho mưa thuận gió hòa, người Khmer Nam bộ giã những hạt nếp mới thành cốm dẹp dâng lên cúng thần . Lễ cúng trăng được tiến hành vào tối ngày 14 tháng 10 âm lịch trước khi mặt trăng lên đến đỉnh đầu. Vị trí hành lễ thường là trước sân nhà, sân chùa hoặc những nơi rộng rãi để có thể nhìn thấy được mặt trăng. Trước bàn hành lễ, người chủ lễ cho xây dựng một cổng chào bằng hai cây tầm vong, bên trên là thanh xà ngang dài chừng 3m. Cổng chào được trang trí hoa lá trước một bàn tròn đặt lễ vật cúng. Lễ vật gồm có cốm dẹp, các loại sản vật nông nghiệp như khoai môn, khoai lang...và các loại trái cây như dừa, bưởi, cam, chuối...cùng với bánh kẹo.
Mọi người chắp tay thành kính ngồi sau lưng vị chủ lễ thường là một cụ già, cùng hướng về phía mặt trăng. Vị chủ lễ đọc lời khấn vái đến thần Mặt Trăng, xin thần tiếp nhận lễ vật và ban phước lành cho mọi người.
Sau khi cháy hết tuần hương, người già gọi trẻ con đến ngồi xếp bằng trước bàn thờ. Sau đó một cụ già dùng tay nhúm một ít cốm và lễ vật khác, đút vào mồm từng đứa trẻ, tay kia vỗ lưng và hỏi ước muốn của chúng năm nay là gì? Năm nào câu trả lời của các em suôn sẻ, lễ độ, rành rọt thì người lớn tin rằng năm đó mọi điều tốt lành sẽ đến với họ. Cuối cùng mọi người hạ cỗ cùng nhau hưởng lễ vật; trẻ nhỏ nô đùa, múa hát dưới trăng. Nếu có khách mời đến vào ngày này thì họ sẽ nhận được quà bằng cốm dẹp được bọc trong lá chuối.
Tại các ngôi chùa Khmer đêm 14 tháng 10 còn có tục thả đèn nước trên sông và thả đèn gió lên trời. Theo quan niệm của người Khmer, tục thả đèn nước sẽ xua tan bóng tối, sự ô uế và buồn bã, giữ lại sự bình yên trong phum, sóc. Nhiều hoạt động văn nghệ truyền thống Khmer như đoàn hát dù kê, dì kê, múa Rô-băm biểu diễn phục vụ cho khách tham gia lễ hội rất được người dân hoan nghênh.



Hình 04 : Đua ghe ngo tại lễ hội Óoc Om Bóc Sóc Trăng năm 2009.

Tại các tỉnh có nhiều người Khmer sinh sống như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Trà Vinh.... thường tổ chức đua ghe ngo nhân dịp lễ hội Óoc-Om-Bóc với sự hiện diện của nhiều đội đua đến từ các chùa ở địa phương và các nơi khác , đôi khi  có cả các đội ghe ngo nước bạn Campuchia cùng tham gia. Không khí sôi động, hào hứng với tiếng nhạc Ngũ âm rộn ràng, tiếng hò reo cổ vũ của người xem vang dội cả một khúc sông, thôi thúc các tay chèo cố gắng theo nhịp nhanh dần của  người điều khiển ( Chi-Khbal) và tăng tốc quyết liệt khi về gần đến đích. Trong số những đội đua, có nhiều chị em phụ nữ Khmer nhiệt tình tham gia. Dù đến từ những phum sóc xa xôi, hay vốn là nữ công nhân từ các nhà máy, xí nghiệp, nhưng tất cả đều mang dáng dấp khỏe mạnh, hoạt bát và rất năng động, lại thạo nghề sông nước nên rất vững tay chèo chống. Họ luôn chứng tỏ bản lĩnh và thi thố tài năng một cách quyết liệt không thua gì phái mày râu. 


Hình 05 : Múa mừng chiến thắng.

Kết thúc cuộc đua, mọi người cùng quây quần sum vầy bên nhau trong điệu múa lâm-thôn rộn rã, ai nấy vui vẻ mời nhau những chén rượu nghĩa tình, dường như không còn nhớ rằng mới đây trên sông là những cuộc so tài gay cấn. Đối với họ, thắng thua không phải là tất cả, giải thưởng chỉ là tượng trưng, điều cốt lõi là được gặp gỡ, giao lưu và giữ gìn truyền thống của cha ông.  Đây cũng là nét đẹp trong đời sống văn hóa của người Khmer Nam bộ.

LÂM THANH QUANG