Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015
Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014
Bảo tồn nghệ thuật sân khấu dù kê, dì kê.
BẢO TỒN NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ, DÌ KÊ
Cùng với điệu múa Rô băm vốn xuất phát từ nghệ thuật
cung đình của vương quốc Khmer, nghệ thuật sân khấu dù kê và dì kê mang sắc
thái dân gian của người Khmer Nam
Bộ gắn bó với nền văn minh lúa nước. Nếu như sân khấu dù kê có nguồn gốc từ
điệu múa Rô băm kết hợp với Kinh kịch và hát Tiều của người Hoa và Cải lương
của Nam Bộ vào đầu thế kỷ 20 ; được phổ biến ở nhiều nơi có người Khmer sinh
sống tại các tỉnh ở Nam bộ như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang…. thì
dì kê hầu như chỉ có ở các huyện miền núi của
An Giang như Tri Tôn, Tịnh Biên …. Nguồn gốc của sân khấu dì kê này vẫn
còn đang tranh cải theo nhiều hướng khác nhau.
Hình 1 : Sân khấu dù kê đoàn Ánh Bình Minh Sóc Trăng.
Nhiều người cho rằng
Dù kê và Dì kê là cùng một loại hình và từ “ Dù kê” là do từ “ Dì
kê” đọc trại ra mà thôi bởi vì trong ngôn ngữ Khmer không có từ “Dù kê” mà chỉ
có từ “Dì kê”. Dù kê là một đặc sản của người Khmer ở Nam Bộ phát triển sang
đất nước Campuchia vào những năm 1930 dưới tên gọi là La khon Bassac (sân khấu
vùng Bassac). Một số khác cho rằng nghệ thuật dì kê có nguồn gốc từ Java hoặc
Malaysia được chỉnh sửa, chọn lọc và đưa vào đất nước Campuchia kết hợp với Rô
băm tạo thành một phong cách riêng vào thế kỷ thứ 9. Khoảng đầu thế kỷ 19, đất nước Campuchia lâm vào cảnh nội chiến,
sân khấu dì-kê dần dần bị mai một rồi biến mất khi thực dân Pháp áp đặt ách cai
trị lên đất nước này vào cuối thế kỷ 19. Luận
cứ này cũng chưa thật chính xác bởi vì trong ngôn ngữ Khmer có sự hiện diện
ngôn ngữ của Java ( Indonesia)
và Malaysia
cũng như các dân tộc láng giềng khác do có sự giao lưu về văn hóa và ngôn ngữ
giữa các nước này với dân bản địa. Loại hình sân khấu dì kê hầu như đã biến mất
ở đất nước Campuchia và chỉ còn tồn tại ở hai huyện miền núi của An Giang là
Tri Tôn và Tịnh Biên chứ không phát
triển sang các tỉnh có loại hình sân khấu dù kê ở hai bên sông Tiền và sông
Hậu. Vì vậy có lẽ chúng ta nên tìm một hướng khác để lý giải cho vấn đề này.
Ngược lại dòng lịch sử
trên đất An Giang cách nay khoảng 200 năm khi Nguyễn văn Thoại vâng lệnh vua
Gia Long đào hai con kinh Thoại Hà và Vĩnh Tế. Việc đào kinh Thoại Hà có chiều
dài hơn 30km từ ngã ba Tam Khê, Long Xuyên đến Thoại Sơn được hoàn thành khoảng
3 tháng thuận lợi hơn vì chỉ là nạo vét những dòng kinh có sẳn và nối liền
chúng với nhau. Tuy nhiên công trình đào kinh Vĩnh Tế có chiều dài khoảng 90 km
từ Châu Đốc đến Hà Tiên (1) kéo dài khoảng 5 năm và nhiều lần bị ngưng trệ do
nhiều lý do khác nhau. Số lượng nhân công phục vụ cho việc đào kinh này lên đến
60.000 lượt người trong đó có 16.000 lượt người là dân công người Khmer dưới
quyền chỉ huy của Điều Bát Nguyễn văn Tồn (2) . Công việc đào kinh rất cực khổ
khiến số dân quân bỏ trốn rất nhiều. Để cho số dân quân này an tâm trong việc
đào kinh Vĩnh Tế, Nguyễn văn Thoại cho vời các đoàn hát bộ Bình Định từ quê nhà
của ông vào phục vụ giải trí cho những người đào kinh sau những giờ làm việc
vất vã vào ban ngày.
Do ngôn ngữ khác biệt
nên những người Khmer tham gia việc đào kinh mặc dầu không hiểu được tiếng Kinh
nhưng họ vẫn cảm nhận được cái hồn của nghệ thuật hát bộ Bình Định qua những
điệu múa, câu hát và cách thức bày trí sân khấu. Chỉ cần một bức màn chắn
ngang, một chiếc bàn, vài cái ghế là có thể tạo dựng nên một sân khấu ngoài
trời phục vụ người dân. Những người Khmer này cũng muốn có một sân khấu mang
bản sắc riêng của dân tộc mình để mọi người cùng thưởng thức. Thế là sân khấu
dì kê kết hợp giữa điệu múa Rô Băm và hát Lăm của người Khmer với phong cách
trình diễn của hát bộ Bình Định được hình thành để phục vụ cho dân quân người
Khmer tham gia việc đào kinh Vĩnh Tế. Điều này lý giải được tại sao Dì kê chỉ
có ở An Giang và nó gần với hát bộ Bình Định hơn là Dù Kê là sự kết hợp giữa Rô
Băm của người Khmer với Kinh kịch của người Hoa và Cải lương Nam Bộ của người
Việt vốn hình thành và phát triển sau này tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc
Liêu….
Nghệ
thuật sân khấu Dì kê được hình thành qua 3 yếu tố : Kịch bản, trang phục và âm
nhạc. Các yếu tố này không theo một khuôn mẫu nhất định mà mang một phong cách
sáng tạo tùy theo điều kiện của các đoàn hát và nơi biểu diễn. Nó có thể biểu
diễn tại sân chùa trong các ngày lễ lớn của người Khmer như Chol Chnăm Thmây, Sen Dolta,
Ok Om Book.. hay trên những sân phơi lúa sau mùa gặt để phục vụ bà con. Kịch
bản hầu như được truyền miệng qua nhiều thế hệ bằng tiếng Khmer chứ không ghi
thành văn bản. Vì vậy công việc sưu tầm những kịch bản Dì kê có phần khó khăn
vì có rất nhiều dị bản. Hiện nay, Dì-kê ở Tri Tôn đã khôi phục và
dựng lại được khoảng 10 kịch bản cổ (Chằn tinh, Tum Tiêu, Chanh-pơ-pha,
Chăm-prư-sa-tứt, Sâng-sâl-chây, Pro-let-xinh-lávung,...) để biểu diễn phục vụ
đồng bào trong các dịp lễ tết và tham dự các liên hoan, hội diễn văn nghệ dân
tộc Khmer trong tỉnh, khu vực ĐBSCL. Nội dung các kịch bản này nhằm đề cao tính
nhân văn trong con người : ở hiền gặp lành, kẻ ác sẽ bị trừng phạt gắn liền với
triết lý của Phật Giáo Nam Tông là tôn giáo chính của người Khmer.
Trang
phục và những đạo cụ của những nhân vật trong tuồng đều có những kiểu cách và
qui định riêng. Những chiếc áo thổ cẩm dược đính kim sa, những chiếc mão có
hình chóp nhọn…. là bao công sức của các diễn viên ngồi bên nhau kết lại sau
những giờ diễn sáng tạo nên.
Độc đáo
nhất trong nghệ thuật sân khấu Dì kê chính là các điệu "lăm" (tương
tự như các câu trong vọng cổ của người Việt). Điệu “ lăm” trong sân khấu dì-kê
có đến 40 điệu, mỗi điệu đi kèm với một kiểu múa và hát bè khác nhau để minh
họa cho từng trường đoạn đau khổ, yêu thương, hài hước... Đặc biệt là có những
vai diễn hề để chọc cười cho khán giả. Những câu nói dí dỏm, những câu chuyện
hài ước được các diễn viên hề “tung hứng” với nhau khiến người xem bên dưới
không thể nhịn cười. Vì thế nó gần gũi với người dân hơn là các điệu múa cung
đình.
Nhạc cụ dùng trong sân khấu dì kê bao gồm đàn Khưm
Tôch, đàn Chapây Chomriêng, đàn Tà khê, đàn Truô Nguôk….Nhạc cụ hơi có kèn
Srolai Pinn Peat, kèn Srolai Rôbăm….,trống Skô Samphô, Skô Đaey…. Tùy theo điều
kiện mà các đoàn có thể sử dụng các loại nhạc cụ khác nhau. Sau này đàn Ghi Ta điện
cùng các nhạc cụ hiện đại như đàn Organ điện tử cũng được đưa vào để làm phong
phú thêm giàn nhạc của sân khấu dì kê.
Những
nghệ nhân của sân khấu dì kê trước đây giờ chỉ còn sót lại vài người như Châu
Nhâm, Néang Mẹ À Leo, Châu Nghinh, Néang Sol, vợ chồng Châu Cháp ( Châu Men
Saray và Néang Ok )…sống tập trung ở các xã trong huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Đến thăm gia đình nghệ nhân
Chau Men Saray ở xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang, ta mới có thể cảm nhận
được sự đam mê “ dì kê” của người Việt gốc khmer ở gần biên giới này . Trong
căn nhà cấp 4 của gia đình nghệ nhân Chau Men Sa Ray gần Ủy Ban Nhân Dân xã Ô
Lâm, phục trang cho các diễn viên hát dì kê được lưu giữ cẩn thận. Những chiếc
áo, mão lộng lẩy được đính kim sa, trang trí bằng những nét hoa văn độc đáo
được xếp ngăn nắp bên trong tủ kính. Tất cả đều do đôi bàn tay khéo léo của đôi
vợ chồng Chau Men Saray và Néang Ok tạo nên.Với ba người gồm hai vợ chồng cùng
với cô con gái Néang Kunh Thia đã dẫn dắt một đội gồm hơn 40 người để đưa “dì
kê” giới thiệu với đồng bào trong cả nước biết đến loại hình nghệ thuật này.
Hiện nay, Néang Kunh Thia vừa
là phát thanh viên tiếng Khmer của đài phát thanh huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang,
vừa là nghệ nhân xuất sắc của bộ môn nghệ thuật dì kê. Cô vẫn dành thì giờ tập
dượt và dẫn dắt đoàn tham gia các đợt
hội diễn văn nghệ quần chúng nhân các ngày lễ hội của người Khmer tại địa
phương hoặc đi trình diễn các điệu nhạc dân tộc , dì kê ở phía Bắc khi được
ngành Văn hóa yêu cầu.
Những năm trước đây, hàng đêm
sân nhà của ông Châu Men Saray và Néang Ok lúc nào cũng sáng rực ánh đèn. Các
thanh niên trong phum sóc cùng nhau đến đây luyện tập những kịch bản, những
điệu múa để phục vụ cho bà con trong những ngày lễ lớn, những đợt hội diễn ở khu vực và đã đạt được nhiều
huy chương, bằng khen từ các nơi. Hiện nay vì cuộc sống, nhiều diễn viên trong
đoàn phải rời quê hương đi làm công nhân tại các khu công nghiệp ở TP HCM, Bình
Dương…Việc tuyển các diễn viên mới gặp rất nhiều khó khăn bởi vì để học thuộc
lòng kịch bản, nắm vững các điệu múa và hát “lăm” cũng phải mất gần 1 năm.
Ngoài ra các diễn viên không được hưởng quyền lợi nào khác ngoài tiền bồi dưỡng
lúc trình diễn và tiền thưởng từ những thành tích đã đạt được trong các buổi
hội diễn. Những diễn viên đoàn dì kê ban ngày làm những công việc khác nhau,
ban đêm rảnh rỗi mới có thể hẹn nhau đến sân tập hát. Ngay cả nghệ nhân Châu
Men Saray cũng tranh thủ trong lúc nông nhàn chạy chiếc xe máy chở khách kiếm
tiền để theo đuổi đam mê của mình. Những khó khăn trên khiến sân khấu dì kê tại
An Giang ngày càng bị thu hẹp không thể phát triển được. Trong khi đó, nghệ
thuật sân khấu dù kê được tỉnh Trà Vinh đưa vào giảng dạy trong bộ môn văn hóa
truyền thống tại trường Đại Học Trà Vinh và lập hồ sơ để được công nhận là Di
sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia và thế giới.
Để bảo
tồn nghệ thuật sân khấu dì kê tại An Giang nói riêng và dù kê tại các tỉnh của
miền Tây Nam Bộ nói chung , chúng tôi nghĩ phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa
các nhà nghiên cứu về văn hóa Khmer Nam
Bộ và các nghệ nhân đã gắn bó cuộc đời mình với dù kê và dì kê. Trước mắt theo
chúng tôi cần thực hiện các bước như sau :
1. Tổng hợp các tuồng tích và biên soạn
thành một kịch bản hoàn chỉnh và thống nhất, sau đó đưa về cho các đoàn dù kê,
dì kê tập và trình diễn cho công chúng xem để nhận ý kiến phản hồi từ các đối
tượng này. Để thực hiện việc này các nhà nghiên cứu về văn hóa dù kê, dì
kê sẽ đến từng đoàn hát, ghi âm lại các
tuồng tích và dịch lại sang tiếng Việt để trình lên Bộ Văn hóa thẩm định, bởi
vì các nghệ nhân phần đông không rành tiếng Việt nên khả năng diễn giải kém. Qua
đó chúng ta mới có thể làm rõ hơn những nét tương đồng và dị biệt giữa dù kê và
dì kê. Việc này mặc dầu tốn nhiều thời gian và công sức nhưng lại là vấn đề cơ
bản cần phải giải quyết trước tiên.
2. Hợp tác với đài truyền thanh, truyền hình
địa phương nơi có nhiều người Khmer sinh sống để đưa dì kê vào chương trình văn
hóa tiếng Khmer của đài. Việc này giúp cho các nghệ nhân có thêm thu nhập và
yên tâm đóng góp vào việc bảo tồn sân khấu dì kê.
3. Đưa nghệ thuật sân khấu dù kê, dì kê và
cả múa Rô băm trở thành một môn học tại các trường dân tộc nội trú tại các vùng
có người Khmer sinh sống. Có thể mời các nghệ nhân trong lĩnh vực này đến
truyền đạt cho các học sinh tại đây. Tuy những nghệ nhân này không có bằng cấp
văn hóa và sư phạm nhưng với kiến thức và kinh nghiệm lâu năm vẫn có khả năng
chuyển giao tốt. Nếu thực hiện được như thế sẽ tạo nên một đội ngũ kế thừa quan
tâm đến việc bảo tồn và phát triển loại hình này và hình thành dòng chảy nhịp nhàng trong đời sống
văn hóa, tinh thần của đồng bào Khmer
Nam Bộ.
Sân khấu Dù kê, Dì kê là kết quả của
sự giao lưu về văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa và Khmer sống chung với nhau
trên vùng đất Nam Bộ hàng thế kỷ đã được người Khmer tại đây chắt lọc tại để
tạo thành một loại hình văn hóa riêng của dân tộc mình. Những lớp người đi
trước đã giữ gìn và phát triển loại hình này ngày càng gần gũi với đời thường
và là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đồng bào Khmer trong những ngày
lễ hội. Vì vậy bộ môn nghệ thuật Dù kê,
Dì Kê của người Khmer Nam Bộ nên sớm được bảo tồn, phát huy, để góp thêm những
viên ngọc quý vào nền văn hóa Việt Nam – vốn được xem là nền văn hóa đậm đà, đa
bản sắc. Đây cũng chính là nguyện vọng của những người quan tâm đến việc bảo
tồn và phát triển loại hình văn hóa này đứng trước nguy cơ chúng có khả năng
biến mất trước làn sóng phát triển ồ ạt của âm nhạc hiện đại.
LÂM QUANG
HIỂN
Chú thích :
(1) :Tổng chiều dài kinh Vĩnh tế
là 87.340m, nếu trừ đi sông Giang Thành và náo khẩu Ca Âm thì phần đào mới chỉ
vào khoảng 37.190m mà thôi.
(2) : Dung Ngọc Hầu Tiền quân Thống chế Điều Bát Nguyễn Văn
Tồn tên thật là Thạch Duồng, sanh năm Quý mùi (1763) tại làng Nguyệt Lãng, xã
Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, dưới thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc
Khoát. Ông là người Khmer, có tướng mạo khôi ngô, võ nghệ cao cường, tính tình
cương trực. Vì vậy, Ông được Nguyễn vương phong chức cho trấn thủ ở Oai Viễn
đồn (Trà Ôn) và đạo Trấn Giang (Cần Thơ), kiêm quân xuất hai phủ Trà Vinh và
Mân Thít. Binh đoàn của Ông chiến đấu dũng mãnh, xuất sắc.
Năm 1787, Ông theo chúa
Nguyễn Ánh chạy sang Vọng Các (Bangkok, Thái Lan) tránh quân Tây Sơn. Năm sau,
Ông trở về nước, theo Lê Văn Quân đánh Tây Sơn ở bảo Ba Lai. Khi chúa Nguyễn
Ánh trở về nước, Ông được phân công trở về Trà Vinh, Mân Thít chiêu mộ dân
binh, được giao quyền làm Nội thuộc Cai đội Thống quân, đóng đồn tại Cầu Kè,
Trà Ôn, tiến hành khai khẩn đất hoang trồng trọt hoa màu.
Năm 1810,
Cao Miên xảy ra nội chiến, quân Xiêm nhân cơ hội xâm lấn bờ cõi xứ nầy, Ông
phụng lệnh triều đình theo đại quân Thoại Ngọc Hầu sang chiến đấu với quân Xiêm
ở thành Lavek (Cao Miên). Thắng trận, uy danh Ông vang lừng và được ban ở lại
trấn thủ thành Nam Vang với trọng trách bảo hộ xứ Cao Miên. Một thời gian sau,
Ông được trở về trấn thủ Trà Ôn, Cầu Kè. Dịp nầy, Ông cùng dân binh ra sức khai
hoang mở đất.
Năm Gia
Long thứ 10 (1811), Ông được triệu về kinh nhận ban thưởng và được thăng hàm
Thống chế, tước Dung Ngọc hầu. Năm 1819, Ông được triều đình bổ vào chức Điều
bát nhung vụ, dẫn một đoàn dân binh Khmer đến Châu Đốc để cùng Thoại Ngọc hầu,
Tuyên Trung hầu lo việc đào kinh Vĩnh Tế dài gần 90 km. Đây là con kinh có vị
thế chiến lược vô cùng quan trọng về kinh tế và quân sự ở biên giới Tây Nam đất
nước... Do có công lao to lớn, Nguyễn Ánh ban cho Ông “tứ danh” Nguyễn Văn Tồn.
Do lao tâm
lao lực với đất nước, với nhân dân, ngày mùng 4 tháng Giêng năm Canh thìn
(1820), Tiền quân Nguyễn Văn Tồn bị bệnh mất tại Trà Ôn. Triều đình Huế phái
đại thần mang phẩm vật vào làm lễ tế với nghi thức long trọng trong 3 ngày. Ông
được triều đình sắc phong Thành hoàng Bổn cảnh Trung dũng Thiên trực. Nhân dân
Trà Ôn vô cùng đau xót, thương tiếc, tôn kính Ông như một bậc tiền hiền có công
khai hoang mở cõi mảnh đất nầy. Năm 1828, vua Minh Mạng sắc phong Ông là Trung
đẳng thần, hàm ân Trung dũng Thiên trực, tước Dung Ngọc Hầu.
Tài liệu
tham khảo :
1.
Nhạc khí dân tộc
Khmer Sóc Trăng của Sơn Ngọc Hoàng.
2. Nghệ thuật sân khấu Dù kê Khmer Nam bộ- nguồn gốc, đặc trưng và các giải pháp bảo tồn, phát triển của Tiền văn Triệu và Dương Hoàng Lộc Đại Học văn Hóa TP HCM.
3. Dì Kê ở
Bảy Núi của Phương Tử Nghi.
Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014
Tin ngưỡng thờ Bà trong nghệ thuật múa Bóng rỗi ở Nam Bộ.
TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ TRONG NGHỆ THUẬT
MÚA BÓNG RỖI Ở NAM BỘ.
Cùng
với đờn ca tài tử, múa bóng rỗi là một loại hình độc đáo của Nam Bộ gắn liền với yếu tố tâm linh
của tín ngưỡng thờ Bà. Ngày xưa, trong những ngày lễ vía Bà Chúa Xứ núi Sam và
các lễ cúng tại các am, miếu ở vùng đất Nam Bộ, thường có những nghệ nhân trình
diễn những bài hát rỗi,
kết hợp với những điệu múa mang tính chất tạp kỹ của xiếc rất được đông đảo quần
chúng tán thưởng.
Hình 01 : Hát rỗi mời gọi cộng đồng tham gia.
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
đã có từ lúc Vua Hùng dựng nước với truyền thuyết con Rồng , cháu Tiên gắn với
việc Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con. Năm mươi con theo
cha xuống biển lập thành nước Văn Lang, năm mươi con theo mẹ lên núi trở thành
những dân tộc ít người sống trên núi cao như Mnông, Tày, Thái, Nùng.... Tuy
truyền thuyết này có vẻ hoang đường, thiếu tính khoa học nhưng mẫu Âu Cơ được
xem như là vị Mẫu đầu tiên của dân tộc Việt.
Hình 02 : Múa dâng bông.
Từng bước, dân tộc ta có tín ngưởng thờ Tam Phủ, Tứ Phủ, thờ Đức Thánh Trần
và các nữ anh thư như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Lê Chân.... Lúc đầu hát chầu
văn xuất hiện dưới dạng hát thờ tức là hát vào những ngày lễ tiết, mừng Thánh đản
sinh hay Thánh hóa, về sau nó được phát triển trong các lễ hầu đồng, hát văn
nơi cửa đền.
Hát chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau được phổ nhạc kết hợp với
giai điệu dân ca. Khoảng thế kỷ 18-19
các nhà nho đã thổi hồn cho điệu hát chầu văn bằng những bài hát nói . Từ
đó nó gần gủi với dân chúng hơn là những điệu nhạc cung đình. Mỗi bài hát chầu
văn được soạn theo phong cách mà nhân vật sẽ xuất hiện trên giá chầu. Động tác
của các thanh đồng (1) cũng phải ăn khớp với lời ca.
Hình 03 : Múa mâm vàng.
Hát chầu văn ở miền Bắc phát triển
nhất vào đầu thế kỷ 20. Sau năm 1954 nó bị cấm ở miền Bắc nhưng những người gốc
Bắc di cư đã kịp đem “ Hầu giá đồng” này vào miền Nam kết hợp với múa bóng rỗi ở
địa phương hình thành một loại hình văn hóa mới tại Sài Gòn và ở một số nơi
khác ở Nam Bộ.
Hình 04 : Múa Khạp da bò ( múa lu).
Khi khai hoang mở cõi về đất phương Nam đến vùng Bình Định, Phú Yên,
Khánh Hòa (Nha Trang)....vào thời chúa Nguyễn, tục thờ Mẫu ở miền Bắc đã hòa nhập
vào tục thờ nữ thần
Pô Ina Nagar của dân tộc Chăm Bà ni ở Nam Trung Bộ và nữ thần này được Việt hóa
thành nữ thần Thiên Y A Na. Lòng tin của người dân mãnh liệt đến mức triều đình
nhà Hậu Lê phải phong cho nữ thần là Thiên Y Thánh Mẫu. Vừa qua nhà nghiên cứu
văn hóa và sưu tầm cổ vật Lâm Dũ Xênh đã tìm lại được sắc phong cho Thiên Y cổ
miếu tại làng Bình Thủy, thôn Bình Liêm, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh
Ninh Thuận và đã trao lại cho ngôi miếu
này. Đây là ngôi miếu cổ có tuổi đời mấy trăm năm và được cả 3 dân tộc Kinh,
Chăm và Hoa tin tưởng và cúng bái thường xuyên.
Hình 05 : Khán giả thưởng tiền cho nghệ nhân.
Tại đây, những
bài hát nói trong điệu hát chầu văn của miền Bắc được thay thế bằng điệu hát
bài chòi và múa mâm vàng của người Chăm Trung bộ được đưa vào trong nghi lễ
cúng tế nữ thần Thiên Y A Na. Khăn xếp của miền Bắc cũng được cải biên lại
thành khăn vành rây rộng hơn gần giống với trang phục của cung đình Huế.
Hình 06 : Người xem bên dưới cũng phấn khích
và đội mâm múa theo.
Càng tiến sâu về phương Nam, tục thờ
Mẫu có dịp tiếp xúc với nhiều nguồn văn hóa khác nhau như tục thờ Thiên Hậu
Nương Nương của người Hoa du nhập vào Việt Nam hơn 300 năm, tục thờ nữ thần đất
Néang Khmau (2) của người Khmer và kết hợp lại để trở thành một nữ thần của địa
phương như trường hợp của Bà Đen ở
Tây Ninh trở thành Linh Sơn Thánh Mẫu. Đặc biệt nhất là trường hợp của Bà Chúa Xứ
núi Sam : từ một tượng thần Shiva là một nam thần của đạo Bà La Môn có nguồn
gốc từ Ấn Độ đã trở thành Chúa Xứ Thánh Mẫu (3) được cộng đồng
người dân tin tưởng không chỉ riêng vùng đất An Giang mà cả Nam Bộ rộng lớn.
Hai bệ thờ bên tượng Bà Chúa Xứ núi Sam còn đang lưu giữ bộ Linga và Yoni phủ
bằng khăn đỏ được người dân tôn xưng Cô và Cậu. Ngoài Chúa Xứ Thánh Mẫu được
thờ trong ngôi miếu uy nghi dưới chân
núi Sam, ở Nam Bộ còn có những nữ thần
khác được người dân tin tưởng như “Bảy Bà hay Bảy Cô”, Bà La Sát, Bà Cố Hỷ, Chúa
Tiên, Chúa Ngọc, Ngũ Hành Nương Nương, Cô Hiên, Quan Âm Nam Hải...... Hiện nay
trên đường Thủ Khoa Nghĩa gần cầu Vĩnh Nguơn TP Châu Đốc, tỉnh An Giang còn tồn
tại một ngôi miếu thờ “ Bảy Bà” được xây dựng cách nay hơn 100 năm. Miếu Bảy Bà
hay Thất Thánh Nương Nương này dựa trên truyền thuyết về Thất Tiên Nữ (4) của
Trung Quốc là những nữ tì theo hầu bên
cạnh Tây Vương Mẫu đã được Việt hóa thành những vị tiên cô theo hầu Chúa Xứ
Thánh Mẫu. Hai bên bệ thờ của miếu Bảy Bà còn có bàn thờ Cậu Tài và Cậu Quý,
những nhân vật gắn liền với tín ngưỡng dân gian của người Việt. Điều này cho
thấy rằng tín ngưỡng ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn văn hóa khác nhau.
Có lẻ do bất an trước cuộc sống gian khổ hiểm nguy nơi vùng đất mới, người ta
dễ dàng tìm kiếm những chỗ dựa tinh thần từ những thế lực “ siêu nhiên” , qua đó mà phấn đấu
với chính bản thân để vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sinh tồn.
Hình 07 : Múa dĩa.
Múa bóng rỗi ở Nam bộ được phổ biến
tại các tỉnh ở Nam Bộ cách nay hơn 300 năm khi người dân ở miền ngoài đến khai
phá vùng đất mới này.Trang phục của nghệ nhân
múa bóng rỗi gần giống như trang phục của các vũ công trong điệu múa Lục
Cúng Hoa Đăng trong cung đình. Một số bài nhạc lễ sử dụng trong múa bóng rỗi có
nguồn gốc từ Trung bộ được các nghệ nhân đưa vào sử dụng tại Miếu Bà Chúa Xứ
Núi Sam vào những lễ vía hàng năm. Gần đây, những bài hát rỗi còn kết hợp thêm
với dạng nói lối trong hát Bộ , hát Cải Lương và các điệu lý như lý cây bông,
lý trăm hoa, lý trèo đèo, lý trống cơm... để làm phong phú thêm làn điệu của
bài hát rỗi.
Hình 08 : Múa dao phay.
Mở đầu cho các bài múa bóng rỗi, bà
Bóng xuất hiện trên sân khấu ; tay trái cầm vào tang trống tổ có đường kính
khoảng 25cm, tay phải cầm dùi trống gõ vào mặt trống và tang trống, vừa gõ vừa
hát. Nội dung của bài hát rỗi nói về ý nghĩa của buổi biểu diễn này và mời gọi
cộng đồng cùng tham gia. Sau đó đến màn múa dâng bông và múa Mâm vàng (5) để
làm lễ dâng lên Bà trước khi biểu diễn. Đây là những tiết mục bắt buộc còn
những tiết mục khác tùy theo tình huống mà mỗi nghệ nhân sẽ có cách tùy biến
khác nhau. Đẳng cấp của nghệ nhân múa bóng rỗi được xác định qua tiết mục múa Mâm
vàng. Trong tiết mục này,chiếc mâm được
tung hứng một cách khéo léo và nó có thể di chuyển từ đầu xuống vai và chạy khắp thân thể tùy thuộc
vào cách lắc mình và động tác của người biểu diễn. Múa đồ chơi như múa khạp da
bò ( múa lu ), múa xe máy, múa rót rượu, múa bông huệ, múa dao phay, múa dĩa,
múa bình bông bát tiên...cũng rất được mọi người hưởng ứng vì đây là những tiết
mục không nằm trong việc tế lễ mà nó nhằm giúp vui cho cộng đồng . Điều lý thú
của nghệ thuật múa đồ chơi này là các nghệ nhân có thể rời sân khấu để hòa nhập
vào cộng đồng đang xem biểu diễn bên dưới. Đôi khi người xem phấn khích tột độ,
cũng bắt chước thao tác giống như các
nghệ nhân múa bóng rỗi khiến cho buổi biểu diễn thêm phần sinh động. Khán giả
tán thưởng bằng cách bỏ tiền vào khạp da
bò hay mâm tháp được các nghệ nhân đội trên đầu, nếu biểu diễn càng hay thì
tiền thưởng càng nhiều ! Giàn nhạc dùng trong buổi biểu diễn múa bóng rỗi
thường là các nhạc cụ thuộc bộ gõ như trống cái, sênh, phách, bộ dây như đàn
kìm, bộ vĩ như đàn cò... Sau này có thêm cây đàn guitar phím lõm dùng trong sân
khấu cải lương được đưa vào để làm phong phú thêm cho giàn nhạc.
Hình 09 : Múa bông huệ.
Điểm khác biệt giữa
múa bóng rỗi ở miền Nam và múa lên đồng ở miền Bắc là người múa bóng rỗi không
hề tự xưng là thần thánh nhập vào mà chỉ khiêm tốn cho rằng mình là con cháu
của Bà đến đây trước là làm lễ dâng lên Bà, sau là mua vui cho cộng đồng về đây
tham dự lễ hội.
Các nghệ nhân múa bóng rỗi thường là
những người thuộc thành phần giới tính thứ ba mà ngoài đời gọi là “ bóng”. Để
bù vào những khiếm khuyết về giới tính, những người này được trời ban cho một
thiên tư về múa, tay chân mềm dẽo giúp cho họ có thể thực hiện những thao tác
múa bóng rỗi một cách điêu luyện. Trên sân khấu, họ vừa là người diễn xướng vừa
là người trình diễn các tạp kỹ về bóng rỗi, còn giàn nhạc chỉ giữ vai trò phụ
họa theo. Khi biểu diễn, những nghệ nhân này đã thể hiện sự đam mê, tận tụy với
nghề đến mức quên mình. Chất men nghệ thuật thấm đẫm vào máu huyết từ những
ngày thơ ấu, nay có dịp trỗi lên đã làm cho hồn phách say sưa, tâm trí ngất
ngây để họ vươn tới đỉnh cao nghệ thuật như một quá trình thăng hoa. Ở đó, lằn
ranh giữa thế tục và siêu nhiên như bị xóa nhòa, họ hiện diện trước mắt chúng
ta bằng xương bằng thịt, mà lạ lẫm như bước về từ một thế giới xa xôi nào !
Thật là một bộ môn nghệ thuật có sức thôi miên đến mức đôi khi chúng ta phải tự
hỏi : “Phải chăng có sự chi phối về tâm
linh nào đó của thế lực siêu nhiên đến bản thân người múa bóng rỗi ?”
Hình 10 : Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên giải đáp thắc mắc vể cách thức đào tạo nghệ nhân múa bóng rỗi.
Tại buổi hội thảo “Tín ngưỡng thờ
Mẫu ở Nam Bộ, bản sắc và giá trị” tổ chức tại Châu Đốc vào ngày 26.04.2014, để
giải đáp thắc mắc của những đồng thầy tại các đền, phủ hầu giá đồng ở miền Bắc về tham dự, rằng
những người múa bóng rỗi có phải do thánh nhập vào hay là do kỹ năng luyện tập
? TS Mai Mỹ Duyên, người đã mất nhiều năm nghiên cứu về múa Bóng rỗi ở Nam Bộ
đã khẳng định rằng :
Các nghệ nhân múa bóng rỗi được đào
tạo từ lúc nhỏ khoảng 8-10 tuổi và phải mất từ 8-10 năm rèn luyện thực nghiệm
cùng thầy trong những buổi biểu diễn về múa bóng rỗi thì mới được công nhận là
nghệ nhân. Người được chọn phải hội đủ các yếu tố sau :
-
Có
năng khiếu và cơ duyên để đến với nghề bóng rỗi bởi vì đây là một cái nghiệp.
Khi đã chọn rồi thì nó sẽ đi theo mình suốt đời mặc dầu phải trãi qua nhiều
gian khổ và chịu đựng những định kiến của xã hội đối với nghề này.
-
Biết
cắt mâm vàng dùng cho tế lễ và làm đạo cụ cho múa bóng rỗi cũng như các đạo cụ biểu diễn khác.
-
Có
giọng hát tốt và thuộc lòng những bài hát rỗi cổ truyền cũng như sáng tạo ngẫu
hứng trong lúc biểu diễn.
-
Có
những kỹ thuật múa nghi lễ điêu luyện.
-
Có
kỹ thuật múa đồ chơi ( tạp kỷ) khéo léo để biểu diễn các bài múa như múa dâng
bông, múa mâm vàng, múa rót rượu, múa dao phay, múa lông công... và sức lực để
múa những vật nặng như múa khạp da bò, múa xe máy, múa bàn ăn....
Đây là điểm khác biệt thứ hai rõ nét nhất giữa múa
bóng rỗi ở Nam Bộ và múa lên đồng của các thanh đồng ở miền Bắc. Khi biểu diễn,
chính những kỷ năng luyện tập kết hợp với niềm tin rằng Bà sẽ phù hộ cho họ
trong cuộc sống đã trở thành điểm sáng tâm linh giúp họ vượt qua mọi thử thách
để đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật.
Từ sau thập kỷ 70-80 của thế kỷ trước,
do việc đánh đồng với mê tín dị đoan nên múa bóng rỗi không được xuất hiện trước
công chúng và chìm vào quên lãng. Những nghệ nhân múa bóng rỗi thời trước không
tìm được truyền nhân nên ít quan tậm đến việc đào tạo đội ngũ kế thừa của loại
hình này. Tuy nhiên vẫn còn một số nghệ nhân ở Sài Gòn, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền
Giang, Bến Tre, Long An, Đồng Tháp, An Giang....vì yêu nghề nên vẫn lén lút đào
tạo những hạt nhân mới. Đến nay chúng ta đã có một cái nhìn mới về loại hình
này nhưng để phục hồi nó cũng phải mất đến 10 năm, 20 năm thậm chí lâu hơn nữa
bởi vì người nghệ nhân múa bóng rỗi phải được chọn lọc và đào tạo ngay từ lúc
nhỏ, phải có căn cơ và gắn bó với nghề. Tiếc rằng cho đến nay vẫn chưa có một
trường đào tạo, một khóa huấn luyện chính qui cho loại hình múa bóng rỗi bởi vì
những nghệ nhân trước đây được truyền thụ trực tiếp thông qua người thầy, không
có giáo trình thống nhất cho việc đào tạo nghề này mà chỉ nhờ vào khả năng sáng
tạo của người được truyền thụ. Tuy nhiên , đó cũng chính là nét độc đáo của nghệ
thuật múa bóng rỗi !
LÂM
THANH QUANG
1. Chú thích :
(1) Thanh đồng : Còn được gọi là
ghế đồng hay xác đồng là người được chọn để Thánh nhập vào.
(2) Néang Khmau : Nữ thần đất của
người Khmer được thờ rất nhiều ở các tỉnh vùng Tây Nam bộ nơi có nhiều đồng bào
Khmer sinh sống. Tượng vừa mới được phục dựng tại núi Bokor ( Tà Lơn) trên đường
từ chân núi đến khu Thansur Bokor Highland Resort thuộc tỉnh Kampot vương quốc
Campuchia.
(3) Người Pháp dùng danh từ “Reine du
pays” để tôn xưng Bà. Reine có nghĩa là nữ vương, nữ
hoàng. Còn pays nghĩa là xứ sở, vùng đất. Reine du pays nghĩa là
bà Chúa của một vùng đất, hay Bà Chúa Xứ.
(4)
Thất thánh nương nương : là 7 nữ tì theo hầu Tây Vương Mẫu có tên gọi theo màu
áo mặc là Hồng tiên nương nương,Thanh tiên nương nương, Tử tiên nương nương,
Bạch tiên nương nương, Hoàng tiên nương nương, Lục tiên nương nương và Lam tiên
nương nương.
(5) Múa mâm vàng còn gọi là múa tháp là hình một
chiếc tháp được cắt bằng giấy bìa cứng dán giấy nhủ vàng mô phỏng theo tháp thờ
nữ thần Pô
Ina Nagar của dân tộc Chăm Bà ni ở Nha Trang (
Khánh hòa) mà người Việt gọi là Tháp Bà. Tháp này sẽ được gắn chặt vào một
chiếc mâm bằng đồng hay nhôm mà người biểu diễn đội trong lúc tế lễ .Cạnh bên
của chiếc mâm được được đặt lên đầu, cằm hay mủi và nghệ nhân múa bóng rỗi sẽ cố
giữ cho chiếc mâm thăng bằng trong khi biểu diễn.
2.
Tài liệu tham khảo :
-
TS
Trần Hồng Liên : Giá trị truyền thống trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam bộ.
-
TS
Mai Mỹ Duyên : Kỹ năng trình diễn múa bóng rỗi.
-
TS
Nguyễn thị Hải Phượng : Nghi thức diễn xướng bóng rỗi trong tín ngưỡng thờ Mẫu
ở Nam
bộ.
-
Ths
Nguyễn Hữu Hiếu : Vài nét về diễn trình hình thành tục thờ Bà Nam bộ.
Bài viết đã được đăng trên báo KTNN số 857 ra ngày 01.06.2014. Mọi trích dịch từ bài viết này phải có sự đồng ý của Tòa soạn và tác giả và phải ghi rõ nguồn trích dẫn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










