Trang

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

Lễ phục hiện rước tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam tại Châu Đốc.


LỄ PHỤC HIỆN “RƯỚC TƯỢNG BÀ” TỪ ĐỈNH NÚI SAM
MỘT NÉT VĂN HÓA ĐẶC SẮC TRONG MÙA LỄ HỘI.
LTQ
Sau khi vui đón tết âm lịch, những chuyến hành hương về vùng đất Tây Nam bộ được nhiều người hưởng ứng. Một trong những nơi được ưu tiên chọn đến là miếu Bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc, một vùng đất vốn nổi tiếng về những danh lam thắng cảnh cùng các huyền thoại về thời khai hoang mở cõi như Tây An tự, lăng Ông Thoại Ngọc Hầu, Phước Điền tự( chùa Hang )….. Mặc dầu đến cuối tháng 4 âm lịch mới bắt đầu khai hội Vía bà Chúa Xứ  nhưng ngay từ đầu tháng giêng, những đoàn xe tấp nập từ các nơi đổ về núi Sam Châu Đốc. Mọi người  háo hức đến tận nơi với lòng thành cầu an cho gia đình, mong muốn được yên tâm làm ăn trong năm mới, đồng thời tìm hiểu về lịch sử của Bà Chúa Xứ núi Sam vốn mang tính huyền thoại như vùng Thất sơn huyền bí.
Ngay từ khi được nâng cấp thành lễ hội văn hóa cấp quốc gia vào năm 2001, sức thu hút của lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam ngày càng được phát huy. Những hủ tục như xin xăm, xin bùa về đeo…. đã dần dần được loại bỏ. Ngoài các nghi thức chủ yếu trước đây của lễ hội như lễ Tắm Bà, Thỉnh sắc, Túc yết, Xây chầu, Chánh tế, Hồi sắc….. lễ phục hiện “Rước tượng Bà” được đưa thêm vào nhằm giúp khách hành hương hồi tưởng lại những khó khăn của người dân khi đưa được tượng Bà vốn ngự trên đỉnh Núi Sam đến nơi miếu thờ hiện nay cánh nay hơn 200 năm.
Theo các nhà khảo cổ thì núi Sam và các núi khác trong dãy Thất sơn cách nay gần 2000 năm vốn là các hòn đảo nhỏ thuộc vương quốc Phù Nam, một vương quốc hùng mạnh bao gồm một dãy đất rộng lớn trãi dài từ vùng Nam Cát Tiên đến Vịnh Thái Lan. Thành phố lớn của vương quốc này là thành phố Óc Eo thuộc vùng Ba Thê, Núi Sập (thuộc huyện Thoại Sơn của An Giang hiện nay) vốn là một thương cảng lớn tiếp nhận nhiều thuyền bè từ các nơi khác đến buôn bán (như Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ…). Ngoài sự trao đổi về hàng hóa còn có sự trao đổi về văn hóa, tín ngưỡng nên đạo Bà La Môn trở thành một quốc giáo của vương quốc Phù Nam.


Vương quốc này tồn tại từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ 7 thì bị suy thoái và sụp đổ. Tượng Bà Chúa Xứ có thể do các thương nhân đến từ Ấn Độ bằng đường biển vì tượng vốn làm bằng chất đá “Son”, một loại đá màu xanh sậm có điểm những hạt màu đen vốn không có mặt trong các loại đá xuất xứ từ vùng này. Tượng cao khoảng 1,65m mang dáng hình một người ngồi thong thả, một tay đặt trên đùi còn tay kia buông thõng xuống. Thời gian gần đây người ta còn tìm gặp dấu vết của một kinh đào dài khoảng 90km từ Óc Eo đến khu vực Lò mo phía nam núi Sam.


Hình 1 : Chuẩn bị lễ rước kiệu Bà lên đỉnh núi.


Hình 2 : Di tích nơi Bà ngự trên đỉnh núi Sam trước đây.
Theo nhà khảo cổ Malleret (người Pháp) đến nghiên cứu tượng Bà vào năm 1944, thì tượng Bà chính là thần Shiva, là vị thần tượng trưng cho việc sáng tạo và tiến hóa của Đạo Bà La Môn xuất phát từ Ấn Độ. Bệ đá nơi đặt tượng hình vuông, mỗi cạnh chừng 1,6m, dày khoảng 0,3m. Ở chính giữa bệ là một lỗ vuông mỗi cạnh khoảng 0,4m. Trên phần thân tượng Bà cũng có một chốt vuông đặt vừa khít khao vào lổ để định vị chính xác. Đây chính là biểu tượng của Yoni và Linga của đạo Bà La Môn tượng trưng cho sự sinh sôi phát triển. Bệ đá này ngày nay nằm cạnh Pháo đài vẫn còn được giữ nguyên hiện trạng để nhân dân đến chiêm ngưỡng và cúng bái. Ngoài ra trong khi đào đất để xây dựng trường học trong khuôn viên miếu Bà người ta còn tìm được mấy phiến Yoni có hình dạng như trên nhưng nhỏ hơn. Vị trí đào được nằm ngay bên dưới nhà trưng bày Miếu Bà Chúa Xứ hiện nay, là nơi mà những phiến Yoni này hiện được lưu giữ.
Phương thức đưa tượng Bà lên đỉnh núi cũng là một đề tài thú vị đối với các nhà nghiên cứu. Một giả thuyết có vẻ hợp lý được đưa ra là núi Sam khi đó là một hòn đảo nhỏ nằm giữa biển Đông, phía Tây Nam vách núi dựng đứng. Tàu cặp bến vào vách đá làm điểm tựa rồi dùng dây để kéo tượng lên. Tượng nhìn ra phía biển Đông để phù hộ cho các thương thuyền vượt qua sóng gió.
Vào cuối thế kỷ 18, trên đường đi xâm lấn nước ta, quân Xiêm tìm gặp tượng Bà tại đỉnh Núi Sam định mang về nước nhưng tượng quá nặng đành phải bỏ lại. Việc một tay của tượng bị gãy được phục chế lại có người cho rằng do quân Xiêm bắn gãy nhưng cũng có thể là bị gãy trong quá trình vận chuyển từ chân núi lên đỉnh. Việc này không ai có thể xác định được chính xác về thời gian cũng như  phương cách đưa được bức tượng lên đặt trên đỉnh núi.
  Một  truyền thuyết nữa rất được nhân dân tín ngưỡng và truyền tụng, là cách nay gần 200 năm, khi những cư dân Việt đến sinh sống tại đây, họ tìm gặp tượng Bà trên đỉnh núi. Dân chúng muốn mang tượng Bà xuống núi để dễ dàng thờ phụng nhưng hàng trăm thanh niên lực lưỡng cũng không thể lay động nổi bức tượng. Bà liền đạp đồng về xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu, báo cho dân làng biết rằng muốn đem bà xuống núi chỉ cần 9 cô gái đồng trinh là có thể mang tượng xuống núi được. Quả thật, khi các cô gái đến khiêng thì tượng bà bỗng trở nên nhẹ nhàng. Khi đến vị trí miếu Bà hiện nay thì trời đã tối, mọi người hạ tượng xuống để nghỉ ngơi. Đến khi khiêng tiếp thì tượng bỗng nặng trịch, không nhấc lên được. Dân làng cho rằng Bà muốn ở lại đây nên lập miếu để thờ.


Hình 3 : Rước áo mảo của Bà xuống núi.



Hình 4 : Đoàn rước kiệu Bà xuống núi.

Người Pháp dùng danh từ “Reine du pays” để tôn xưng Bà. Reine có nghĩa là nữ vương, nữ hoàng. Còn pays nghĩa là xứ sở, vùng đất. Reine du pays nghĩa là bà Chúa của một vùng đất, hay Bà Chúa Xứ. Đến khoảng năm 1930 trong ban quản trị miếu có ông hương chủ là Phạm Văn Tiền đề xuất thuê thợ từ Chợ Lớn về tô điểm lại mặt và gắn pha lê vào đôi mắt để pho tượng có vẻ sống động và giống phái nữ hơn. Phía bên dưới tượng vẫn giữ nguyên hiện trạng. Thiện nam tín nữ từ các nơi đến hiến cúng các y phục đắt tiền, đồ trang sức quý giá ngày càng đông. Áo  mão, vàng bạc để chật cả một gian đại sảnh. Ban quản trị miếu Bà phải dành nguyên một dãy lầu để lưu trữ những lễ vật trên để khách hành hương chiêm ngưỡng. Thời gian gần đây, những áo cũ của Bà được cắt thành từng miếng nhỏ để phát cho khách hành hương đem về lấy lộc.
Hàng năm, vào dịp lễ rước tượng, du khách lại được tận mắt chứng kiến  cảnh trùng trùng điệp điệp những đoàn người  theo chân đoàn rước lễ lên đỉnh núi vào lúc chiều tà để khi xuống núi vừa kịp buổi hoàng hôn.
Vì sao “Lễ rước tượng Bà” – mang  ý nghĩa khôi phục lại nghi thức rước tượng Bà từ nơi ngự trước đây trên đỉnh núi Sam xuống nơi yên vị tại miếu Bà hiện nay – lại được sự đồng lòng, tín ngưỡng của cộng đồng ở mức cao đến như vậy ? Phải chăng, lễ rước tượng Bà đã làm sống lại truyền thuyết xa xưa, làm cho lịch sử khẩn hoang càng được tô đậm thêm nét huyền bí ? Phải chăng, nghi lễ  trên đã khắc họa lại một cách rõ nét rằng, vào thời khắc đó, con người rất cần một chỗ tựa tâm linh để vui sống và tồn tại trước thiên nhiên hoang dã quá ư khắc nghiệt…?
Thời gian tiến hành nghi thức lễ rước tượng Bà  từ trên đỉnh núi xuống miếu được tiến hành vào chiều ngày 22 tháng 4 âm lịch. Tất cả người dự lễ tập trung tại Nghĩa Trang Liệt Sĩ phường Núi Sam gần đường lên pháo đài nơi Bà ngự trước đây để tiến hành lễ. Nghi thức của buổi lễ được dàn dựng và thực hiện như buổi lễ xin rước tượng Bà cách nay hơn 200 năm nên lễ này được gọi là “ lễ phục hiện rước tượng Bà”. Để thay thế tượng Bà, người ta chọn áo mão thật đẹp, là phục trang sẽ được các tín  nữ  trong ban Quý tế mặc cho Bà sau lễ Tắm Bà lúc 0 giờ ngày 24 tháng 4 âm lịch. Bộ áo mão này được đặt trên một chiếc kiệu sơn son thếp vàng. Chín cô gái trẻ, xinh đẹp được chọn vào vai  đồng nữ  để khiêng kiệu. Do sự tín ngưỡng của cộng đồng  mạnh mẽ, nên  các cô gái luôn được mọi người ngưỡng mộ và họ rất  lấy làm vinh dự  khi được khiêng kiệu Bà.  Khoảng đường đi và về hơn 4km, nên mặc dù kiệu được đặc chế bằng vật liệu nhẹ nhưng người khiêng kiệu cũng rất vất vả, nhất là lúc lên núi. Đi đầu là đoàn lân rồng múa mở đường, kế đó là hai hàng học trò lễ mang cờ lọng,  Ban quản trị miếu mặc lễ phục đi ở giữa. Theo sau là các phụ lão mặc áo gấm màu đỏ và vàng, đầu chít khăn. Cuối cùng là nhân dân địa phương đi bộ theo đoàn. Trên mặt mọi người ánh lên nét hân hoan và thành kính. Đoàn người kéo dài có khi hàng mấy cây số, đến nỗi người đi đầu đã lên đến đỉnh núi  mà người đi cuối vẫn còn ở chân núi…  
Sau khi lên đến đỉnh núi nơi bệ đá  Bà ngự trước đây, đại diện ban Quản trị lăng miếu đặt áo mão xuống trước bệ thờ và thắp hương khấn vái  xin phép đưa tượng Bà xuống núi. Sau khi xin keo được chấp thuận, lễ rước tượng Bà xuống núi bắt đầu được tiến hành. Áo mão được đưa lên kiệu và cả đoàn bắt đầu quay xuống núi. Thời gian được tính toán sao cho khi xuống tới chân núi thì trời cũng vừa sập tối, tương tự như lần đầu tiên khi rước tượng Bà.
Khi đoàn về đến miếu, áo mão được đưa vào bên trong điện thì ngoài sân miếu, các nghi thức tiếp theo được sân khấu hóa bằng việc các bô lão địa phương đứng ra tế cáo với trời đất, và dân chúng vui mừng ngày rước tượng Bà về với xóm làng. Buổi lễ được điểm tô thêm bằng các tiết mục đặc sắc như múa đèn, múa dâng hoa… Trong đó, các nghệ nhân dân gian đã khéo pha trộn giữa tâm linh và hiện thực một cách tài tình  qua các tiết mục vui tươi, sôi động, vừa thể hiện sự thành tâm, vừa mang đậm hơi thở cuộc sống … 


Hình 5 : Tế cáo với trời đất việc rước tượng Bà đã thành công.


Hình 6 : Múa mừng lễ rước tượng Bà 1.


 Hình 7 : Múa mừng lễ rước tượng Bà 2.

Miếu Bà Chúa xứ là nơi hội tụ của niềm tin một thuở khai hoang mở  đất. Những lớp người xưa đã xây dựng nên hình tượng tâm linh đầy thuyết phục, với “Mẹ Đất” là chỗ dựa về tinh thần và cũng là người che chở, đùm bọc cho người dân khi họ đến vùng đất mới này. Lòng tin đó đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hình thành nên một sức mạnh tâm linh có sức lan tỏa vô bờ bến… 


 Hình 8 : Tượng Bà nơi chính điện.
Trong hơn một trăm năm nay, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam luôn đón nhận sự ngưỡng vọng của đông đảo khách hành hương đến từ mọi miền đất nước, khiến cho lễ hội trở thành một sinh hoạt tín ngưỡng chung cho cả cộng đồng, ở trong lẫn ngoài nước.

                                                       LÂM THANH QUANG






Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Kinh Vĩnh Tế Công Trình xả lũ ra biền Tây của người xưa



KINH VĨNH TẾ : CÔNG TRÌNH XẢ LŨ 

RA BIỂN TÂY CỦA NGƯỜI XƯA

 

                                      Hình 1 : Kinh Vĩnh Tế ở đầu nguồn nhìn từ cầu Vĩnh Nguơn.


            

Hình 2 : Tượng Thoại Ngọc Hầu nơi đền thờ phía sau lăng dưới chân núi Sam.

Mặc dầu kinh Thoại Hà được khởi công trước (vào đầu năm 1818) chạy từ ngả ba rạch Tam Khê ( nơi cầu Tôn Đức Thắng thuộc thành phố Long Xuyên ngày nay ) đến Rạch Giá dài độ 60km, nhưng kinh Vĩnh Tế lại vượt trội hơn về chiều dài, thời gian và số lượng nhân công.
Được khởi công vào đầu năm 1819 với hơn 80.000 nhân công, kinh Vĩnh Tế bắt đầu từ sông Châu Đốc ( giữa phường Châu Phú A và xã Vĩnh Ngươn) chạy dọc theo biên giới đến Giang Thành thuộc tỉnh Kiên Giang dài 98.300m. Công trình này nhiều lần bị ngưng trệ vì dịch bệnh và thiếu kinh phí. Đến đời vua Minh Mạng, nhận thấy tầm chiến lược của kinh này nên ông ra lệnh tập trung nhân lực và tài lực vào việc đào kinh. Sang năm 1825 công trình này mới chính thức hoàn thành. Nhìn trên bản đồ, nó chạy dài như một con rắn uốn lượn qua dãy Thất Sơn huyền bí để thoát lũ ra biển. Theo người xưa kể lại, thời trước làm gì có những phương tiện hiện đại để đo đạc nên phải dùng kỹ thuật tuy đơn giản nhưng hiệu quả nhất là dùng ngọn lửa để phóng tiêu. Ban đêm, 3 ngọn đuốc được thắp sáng cách nhau hơn trăm mét được điều chỉnh thẳng hàng bởi một viên quan phụ trách do đạc. Còn ban ngày, nhân công căn cứ vào đó để đào kinh. Khi đến địa phận Cây Mít ( thuộc xã Nhơn Hưng huyện Tịnh Biên ) bị đá bàn ở chân núi cản lại nên lòng kinh không sâu, ghe thuyền phải chờ con nước lớn mới đi qua được. Đến thời Pháp thuộc, chính quyền mới cho đào một đường vòng qua chân núi  đến Đầm Chích (2) và xây một đập chặn để giữ nước lại. Ở hai đầu đường vòng này, người Pháp làm hai cánh cổng.Khi nước lớn, cổng phía Cây Mít được mở ra để ghe thuyền đi vào trong rồi mới đóng lại. Sau đó cổng phía Đầm Chích mới mở ra, chờ nước quân bình  xong ghe thuyền mới đi ra được. Việc đóng mở hai cổng này hoàn toàn bằng tay qua hệ thống truyền động bằng bánh răng thép nặng hàng tấn. Còn đập chặn nước được xây bằng bê tông mặc dầu thời đó xi măng là một mặt hàng rất hiếm chỉ dùng cho các công trình trọng điểm và quốc phòng. Đập này ngoài việc giữ nước còn có một nhiệm vụ quan trọng khác là ngăn nước mặn từ biển về. Rất tiếc là hai công trình đó hiện nay bị phá hủy không còn để lại dấu vết. Sau này nhờ sử dụng mìn để phá đá nên lòng kinh mới sâu để ghe thuyền có thể lưu thông dễ dàng.
Việc đào kinh Vĩnh Tế này giúp cho dân chúng qui tụ về đây sinh sống và thành lập 5 xã chạy dọc theo kinh như Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thông, Vĩnh Điều và Vĩnh Gia. Việc giao thông đi lại bằng đường thủy cũng trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, hơn 3.000 nhân công đã vĩnh viễn nằm lại do “sơn lam, chướng khí” và “hùm tha, sấu bắt” hoặc những rủi ro do tai nạn lao dộng trong lúc đào kinh đầy gian nan cực khổ nơi núi rừng hiểm trở này. Những nguời hy sinh được chôn cất rãi rác dọc theo bờ kinh. Số quan viên phụ tá cho Thoại Ngọc Hầu chết trong lúc đào kinh được chôn bên lăng mộ của ông có đến mấy chục người.
Để tỏ lòng xót thương những dân công vì nghĩa cả phải hy sinh thân mình, Thoại Ngọc Hầu đã làm bài “Tế Nghĩa Trũng Văn” ca tụng công đức của những người này :
“… Đào kinh trước mấy kỳ khó nhớ,
Khoác nhung y chống đỡ biên cương,
Bình man máu nhuộm chiến trường,
Bọc thây da ngựa gởi xương xứ này…”

Bên cạnh sự chỉ huy khôn khéo và năng động của người chồng Nguyễn văn Thoại, còn có bóng dáng của người hiền thê Châu thị Vĩnh Tế. Bà là người phụ trách hậu cần, lo việc ăn mặc cho các dân quân. Để tưởng nhớ công lao của bà nên triều dình đặt tên kinh này là Vĩnh Tế. Núi Sam ngoài tên gọi là Học Lãnh sơn còn có tên gọi là Vĩnh Tế sơn.
Trong công lao đào kinh Vĩnh Tế, ngoài Thoại Ngọc Hầu ra còn có một người ít được ai biết đến. Đó là Tuyên Trung Hầu (3) Nguyễn văn Tuyên, người phụ tá đắc lực cho Thoại Ngọc Hầu trong việc đào kinh. Ông cũng chính là người thay thế Thoại Ngọc Hầu khi ông này mất để trấn thủ Châu Đốc và bảo hộ Cao Miên.


Hình 3 : Núi Sam trong mùa lũ.


Qua việc đào kinh Vĩnh Tế này, chúng ta nhận thấy rằng người xưa đã có một tầm nhìn chiến lược về việc xã lũ, rửa phèn và tạo điều kiện đi lại cho dân chúng vùng An Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Rất tiếc rằng kinh Vĩnh Tế qua gần hai trăm năm bị phù sa bồi lắng nên lòng kinh đã cạn đi nhiều so với trước đây. Nhiều đoạn kinh thuộc xã Vĩnh Gia huyện Tri Tôn vào những tháng hạn có thể xắn quần lội qua dễ dàng. Chính quyền Trung Ương và tỉnh An Giang đang có kế hoạch nạo vét lại lòng kinh nhưng do kinh phí quá lớn nên không thể tiến hành đồng loạt được mà phải làm từng phần. Mong mỏi của nhân dân An Giang là việc này nên tiến hành sớm để người dân yên tâm vượt qua cơn lũ và các kinh T5, T6 xả lũ ra biển Tây phát huy được tác dụng của chúng. Đây cũng là góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng lũ.

                                        LÂM THANH QUANG


CHÚ THÍCH :


(1)Thoại Ngọc Hầu : tên thật là Nguyễn văn Thoại sinh năm 1761 tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam nay là quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẳng.

Năm 1777 : tham gia quân đội Nguyễn Anh chống lại Tây Sơn.

Năm 1784 : được phong Khâm Sai Cai Cơ.

Năm 1802 : được phong Chưởng Cơ Quản Suất Biền Binh lưu thủ Bắc Thành.

Năm 1803 : trấn thủ Lạng Sơn.

Năm 1817 : trấn thủ Vĩnh Thanh, lập 5 làng trên cù lao Dài Cổ Chiên ( Vĩnh Long) là : Phú Thái, Phước Khánh, Thái Bình, Thanh Lương và Bình Thạnh. Kiêm chức Quyền Tổng Trấn Gia Định Thành khi Lê văn Duyệt về kinh dự hội nghị.

Năm 1818 : chỉ huy đào kinh Thoại Hà chạy từ rạch Tam Khê ( Bà Bầu ) đến Rạch Giá, chiêu tập cư dân khai phá vùng Châu Đốc.

Năm 1819 : chỉ huy đào kinh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Giang Thành dài 98.300m.

Năm 1821 : giữ chức Thống Chế Bảo Hộ Cao Miên, án thủ Châu Đốc kiêm Quân Quản Vụ Hà Tiên trấn.

Năm 1822 : đặt dinh Bảo hộ tại Châu Đốc, lập làng Thoại sơn, dựng bia Thoại sơn đến nay vẫn còn tại đình Thoại Sơn.

Năm 1823 : lập 5 làng trên bờ kinh Vĩnh Tế là : Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Thông và các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hậu, Vĩnh Trường, Vĩnh Hội Đông nằm sát biên giới.

Năm 1825 : mở đường từ Châu Đốc đi Lò Gò, Sóc Vinh.

Năm 1826 : Mở đường từ Châu Đốc đi Núi Sam. Sau khi công trình hoàn thành, ông cho dựng bia “ Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” tại núi Sam.

Tháng 9 năm 1828 : dựng bia Vĩnh Tế Sơn tại núi Sam. Ông còn làm bài văn “ Tế Nghĩa Trũng Văn” để tưởng nhớ công lao của những tử sĩ đã hy sinh trong việc đào kinh Vĩnh Tế.
Ông mất ngày mùng 6 tháng 6 năm Kỹ Sửu ( 1829), Lăng ông được xây dựng tại chân núi Sam cùng với hai người vợ là Châu thị Vĩnh Tế và Trương thị Miệt.

Do lập nhiêu công trận nên ông được vua phong tước Ngọc Hầu. Người đời sau còn gọi ông là Bảo Hộ Thoại do ông được lảnh ấn Bảo Hộ Cao Miên.

(2) : Đầm Chích : do chữ Đầm Trích đọc trại ra vì lúc trước vùng này có nhiều chim trích sinh sống. Đầm này hiện nay nằm trên địa phận của tỉnh Kiên Giang.
(3) : Tuyên Trung Hầu: tên thật là Phan văn Tuyên sinh năm 1763 nguyên quán tại làng Kiêm Toàn, huyện Phú Xuân , tỉnh Thừa Thiên sau định cư tại Tòng sơn (Thôn Mỹ An, phủ Tân Thành, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang) nay là xã Mỹ An Hưng, huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1802 : thăng Khâm Sai Chưởng cơ.

Năm 1822 : trấn thủ Biên Hòa, Định Tường rồi được bổ nhiệm trấn thủ Vĩnh Thanh ( Vĩnh Long ).

Năm 1830 : Thay thế Nguyễn văn Thoại bị trọng bệnh mất. Sắc phong chức : Thống Chế cai quản biền binh, Bảo Hộ Cao Miên Quốc Ấn, Án thủ Châu Đốc đồn kiêm quản Hà Tiên Trấn Biên vụ.

Mất năm 1831, thọ 68 tuổi được đưa về an táng tại quê nhà Mỹ An thôn thuộc tỉnh An Giang ( nay là xã Mỹ An Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp).

Do lập nhiều công trận nên ông được vua Gia Long phong chức Trung Hầu và ban quốc tính trở thành Nguyễn văn Tuyên.